https://youtu.be/Sr0rguw-JdU?si=j1Y7MlEGzimltz86
Chào mừng quý vị đến với website của ...
Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Chuyện của lính Tây Nam

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Minh Lê
Ngày gửi: 19h:43' 23-10-2025
Dung lượng: 330.3 KB
Số lượt tải: 0
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Minh Lê
Ngày gửi: 19h:43' 23-10-2025
Dung lượng: 330.3 KB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
Thông tin ebook
Truyện của lính Tây Nam
Thủy Hướng Dương
Tạo và hiệu chỉnh ebook: Hoàng Nghĩa Hạnh
Diễn đàn Tinh Tế
Dự án ebook định dạng epub chuẩn cho mọi thiết bị di động
http://dl.dropbox.com/u/46534480/library/_catalog/
OPDS catalog:
http://dl.dropbox.com/u/46534480/library/_catalog/index.xml
Lời tác giả
Thưa bạn đọc!
Chiến tranh đã lùi xa chúng ta đã khá lâu. Quãng thời 30 năm kể từ khi kết thúc chiến tranh biên
giới đến nay đủ để ký ức vui buồn về nó đang dần trôi xa... Nhưng dù sao đi nữa, những người lính
cầm súng những năm chống Mỹ cứu nước và nhất là những người lính chiến đấu trong những năm
1976 -1979 vẫn còn sống quanh tôi tới ngày nay, chính họ đã làm nên bản tình ca bất diệt cho lòng quả
cảm hy sinh vì đất nước. Nhờ có những người lính năm xưa, tôi đã thấy giá trị của sự yên bình mà tôi
đang được sống. Cũng vì lẽ đó tôi muốn viết về họ với một niềm tự hào từ sâu thẳm trái tim mình.
Khi tôi thực hiện viết cuốn sách thì một số nhân vật của tôi đã vào tuổi xưa nay hiếm, số khác
cũng không còn khoẻ mạnh. Nếu tôi chậm trễ chút nữa thì rất có thể, rất nhiều tư liệu quí báu về chiến
tranh sẽ không còn đến tay tôi cùng độc giả hôm nay và mai sau. Vì tôi biết, hiện nay còn có quá nhiều
thông tin về chiến tranh đang vô tình bị chìm vào thời gian.
Với tinh thần nâng niu những gì thuộc về ký ức chiến tranh, tôi cố gắng thu thập thông tin từ những
người lính đã từng tham gia chiến tranh biên giới Tây Nam, những người chỉ huy và cả những người
mẹ, người vợ của họ để làm tư liệu viết nên cuốn sách “Chuyện của lính Tây Nam” này, với mong
muốn đem đến cho độc giả cảm xúc chân thật nhất về chiến tranh biên giới Tây Nam - điều mà bấy lâu
nay ít ai biết tới.
Nhân vật chính trong cuốn sách tôi viết là một người lính vận tải có nhiệm vụ chính là tải thương,
tải đạn. Cũng bởi anh lính không phải trực tiếp tham gia chiến đấu nên anh có nhiều cơ hội quan sát
khá tinh tế về những gì xảy ra xung quanh anh chăng?
Trong câu chuyện của tôi, với nhận thức của lứa tuổi 20 trong thời điểm bấy giờ, người lính trẻ cư
xử và suy nghĩ rất tự nhiên như chính cuộc sống chiến trận đã tạo nên. Anh ta đã có lúc hèn nhát, có
lúc rất kiên cường…
Tuy nhiên, vì khả năng có hạn nên cuốn sách tôi viết có thể chưa chuyển tải hết tinh thần khốc liệt,
tầm vóc của cuộc chiến... hay một vài chỗ chưa vừa lòng bạn đọc. Rất mong bạn đọc lượng thứ và
góp ý.
Trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, tháng 8 năm 2010
Thủy Hướng Dương
CẢM NHẬN
Có lẽ Thủy Hướng Dương là một người phụ nữ đã dành một tình yêu với lính rất đặc biệt tới mức
hòa nhập được cảm xúc thực của người lính trong chiến tranh.
Chuyện viết rất thực, nêu bật được tình hình cam go và khốc liệt của chiến trường Campuchia lúc
đó. Điều mà chỉ có người lính tham chiến thật mới hiểu và viết lên những sự thật mà sách báo không
dám nói như thế.
Cảm ơn Thủy Hướng Dương đã chịu khó nghe kể chuyện lính, hỏi kỹ tình tiết và viết nên được câu
chuyện rất thật, rất bi hùng này của những người lính tình nguyện Campuchia một thuở.
Vũ Chiến
Lính tình nguyện Campuchia.
Có cảm giác chị Thủy Hướng Dương viết truyện này cứ như đã trực tiếp tham gia trong chiến
tranh, từ cách thể hiện diễn biến tâm lý, tình cảm của nhân vật đến diễn biến của các trận chiến, thật
khốc liệt với những mất mát đau thương. Có những đoạn khiến người đọc như đang ở trong hoàn cảnh
đó, hồi hộp đến nghẹt thở rồi phải trào nước mắt vì xúc động. Chiến tranh được mô tả trần trụi khốc
liệt đầy sinh động về người lính qua ngòi bút của cây viết nữ thật đáng khâm phục.
Cung Diễm
Sinh sau năm 1970, Thủy Hướng Dương chỉ nghe kể chuyện lúc rảnh rỗi thôi mà viêt được những
mấu chuyện lính rất thật, như người trong cuộc, khiến tôi kinh ngạc và thán phục cô ấy. Những mẩu
chuyện viết rất chân thật, mạch lạc và dễ cảm nhận. Thủy Hướng Dương đã mô tả cuộc sống đời lính
rất thật, muôn hình muôn vẻ, “rất lính”.
Trinh sát
Thành viên Quansuvn.net
Thủy Hướng Dương có lối viết dung dị - dung dị như đời lính. Có lẽ vì bản thân hiện thực khốc
liệt cả máu, nước mắt, nụ cười, vừa mang đậm chất hùng ca vừa mang chất bi kịch đã tự thân toát lên
sức hấp dẫn của nó mà không cần pha thêm một chút mắm muối, hay màu mè.
Qua câu chuyện của Tuấn “tròn”- một anh lính vận tải (rồi “có chức”) vui tính, thông minh, mê văn
chương có khả năng quan sát tốt, một góc cuộc chiến tranh biên giới Tây Nam đã hiển hiện sống động.
Tính khốc liệt của cuộc chiến, tình đồng đội, những chi tiết thú vị của đời lính, sự hài hước vui đùa,
những trò nghịch ngợm để quên đi lằn ranh mong manh giữa sống và chết...
Đặc biệt nhiều trang viết đậm đặc những chi tiết đắt giá, xúc động của người lính, khi trung đội
của Tuấn nỗ lực đánh đổi cả mạng sống của mình để đưa tử sĩ về chôn, khi Ấn sa chân vào hố chôn
người của bọn Pôn Pốt hay khi 6 người bạn của Tuấn cùng hy sinh một thời điểm khi xe bò của họ
trúng mìn...
... Thủy Hướng Dương đã lựa chọn một đề tài “độc”. Chủ đề quân đội không “độc”, nhưng mảng
đề tài chuyên biệt trong chủ đề lớn quân đội mà chị chọn là “độc”.
Nhà báo Việt Văn
(Báo Lao động)
CHƯƠNG I
Đầu tháng 12 năm 1977, đơn vị tôi đang đóng quân ở Bỉm Sơn - Thanh Hóa thì được lệnh vào
chiến trường Tây Nam để chiến đấu. Cả đơn vị xôn xao, bàn tán suốt cả ngày. Lại chiến tranh ư? Vừa
giải phóng Miền Nam xong, mới thống nhất đất nước, sao còn đánh nhau nữa? Mà đánh nhau với ai
kia chứ? Cứ tưởng rằng đợt lính nhập ngũ năm 1976 chúng tôi chỉ còn là lính nghĩa vụ, đi để xây dựng
một quân đội thật chính quy và hiện đại thôi. Ai ngờ...
Nhưng cũng đúng thôi, chúng tôi được biên chế vào quân đoàn 1, F320, E48 - quân chủ lực cơ
mà. Hơn nữa quân đoàn này có truyền thống trăm trận trăm thắng, nổi tiếng từ hồi chống Mỹ.
Cho đến lúc này thì đơn vị tôi, nhất là C11 toàn lính Hà Nội. Hầu hết chúng tôi đều ở cùng tiểu
khu Quang Trung, quận Đống Đa nên một số đã quen biết nhau vì đều cùng học với nhau ở trường cấp
3 Đống Đa cả.
Từ bây giờ, chúng tôi mới bắt đầu theo dõi thời sự qua Đài tiếng nói Việt nam, biết rằng ở Xa
Mát, Lò Gò, Tây Ninh vừa có một vụ thảm sát cả cô lẫn trò trường tiểu học Xa Mát cùng một số dân
thường ở đó do quân Khmer Đỏ tràn sang gây hấn.
Cả đơn vị tôi sục sôi. Ai cũng muốn mau chóng được vào ngay chiến trường. Tôi cảm thấy trong
đại đội tôi không có ai tỏ ra lo sợ cả, mặc dù chưa ai biết đánh nhau là gì và sẽ như thế nào. Trong
những ngày chờ đợi, chúng tôi ai cũng tranh thủ viết thư về nhà, cho gia đình, bố mẹ, người yêu... là
mình chuẩn bị “được” vào Tây Ninh chiến đấu.
Sốt ruột chờ đợi, rồi cũng có lệnh lên đường. Sáng ngày 15-12- 1977, tất cả chúng tôi rời Bỉm
Sơn - Thanh Hóa, nơi đã gắn bó chúng tôi gần một năm trời với bao kỷ niệm vui, buồn.
Cả Trung đoàn 48 chúng tôi lên đường! Không phải, cả sư đoàn thì đúng hơn. Quân, tư trang thật
gọn nhẹ chỉ với một ba lô con cóc, chúng tôi ra đi chiến đấu, rời miền Bắc thân yêu, nhẹ nhàng như là
một buổi đi tập dã ngoại và hiện đại hơn lớp cha anh thời chống Mỹ ở chỗ chúng tôi được hành quân
bằng ô tô thay vì phải đi bộ hàng tháng trời mới vào tới chiến trường. Từng đoàn xe ô tô, chở cả trung
đoàn vào biên giới Tây Ninh, nơi chiến trường mới đang chờ đón.
Trên suốt dọc đường hành quân, tất cả anh em chúng tôi lại càng gắn bó, thân thiết với nhau hơn
bao giờ hết, chốc chốc những lời ca của bài hát “Đại đoàn đồng bằng” và “Tôi xa Hà nội năm tôi
mười tám khi vừa biết yêu” lại vang lên trong mỗi chiếc xe.
Mãi cho đến tối 23-12-1977 thì chúng tôi vào tới Xa Mát, Lò Gò (Tây Ninh) và đổ quân xuống
một cánh rừng giáp biên giới Campuchia. Phần vì mệt do đi đường xa, phần vì lần đầu tiên trong đời
bộ đội nằm đất, ngủ rừng nên lúc đầu chúng tôi túm tụm lại rì rầm trò chuyện nhưng rồi chỉ ít phút sau
đã thiếp đi lúc nào không hay, mặc cho phía sau cánh rừng tiếng súng nổ đì đùng...
***
Sáng ngày hôm sau, tất cả trung đoàn chúng tôi được biên chế lại. Tôi cứ tưởng thế nào tôi cũng
được ở cùng với anh em trong đại đội C11 thân yêu của tôi, nhưng hóa ra không phải. Tất cả chúng tôi
bị chia nhỏ để bổ sung vào các đơn vị khác nhau. Chủ yếu là về F320 và F10 quân đoàn 3. Một số
vẫn ở lại E48, một số về E64, gần một nửa nữa về sư 10 và một ít về E52 trong đó có tôi.
Lúc các đơn vị đến nhận quân, mọi người khẩn trương lần lượt về đơn vị mới. Tôi ôm lấy Vọng
con, Thái, Long Khùa, Vinh kều... rồi gạt nước mắt mà chia tay. Một thoáng suy nghĩ đến sự sống chết
lướt qua trong đầu tôi rất nhanh: “Không biết có còn gặp lại chúng mày nữa hay không”.
Điểm lại tình hình, chỉ còn một số ít anh em, tôi, Dũng con, An, Minh sứt và mấy người nữa... An,
Minh sứt, Thỏa chúng nó được ở với nhau về đại đội công binh, sướng thế! Dũng con và mấy thằng
nữa về bộ binh. Còn lại mỗi mình tôi về đơn vị mới thành lập ngày hôm đó là C25 vận tải.
Tôi phát khóc vì toàn bộ số anh em thân thiết ở đại đội đều được ở với nhau chỉ mỗi tôi phải đi
đơn vị khác. Mặc dù tôi đã cố kìm, nhưng nước mắt vẫn trào ra. Trong tôi tràn ngập cảm giác lạc lõng
vì phải ở một đơn vị toàn người xa lạ. Ở đơn vị cũ, đi bất cứ chỗ nào cũng được anh em gọi: “Ê, Tuấn
tròn, Tuấn tròn... lại đây với bọn tao!” đầy thương mến mà nay phải ở một mình một đơn vị thử hỏi
thằng tôi không khóc làm sao được?
***
Tôi vác ba lô về đơn vị mới và được đề bạt làm tiểu đội trưởng tiểu đội 1. Thật quá ngạc nhiên!
Tôi không hiểu sao mình lại được làm tiểu đội trưởng vì tôi rất nghịch và ngang bướng.
- Kệ, cứ để xem sao - Tôi nghĩ vậy. Tiểu đội tôi có mười hai chiến sĩ và tôi bất ngờ phát hiện ra
tiểu đội mình toàn lính cựu: ba ông lính 74, tám ông lính 75, có mỗi mình tôi là lính 76 mà lại bé loắt
choắt. Tôi đâm lo thật sự. Không biết mình sẽ chỉ huy mấy ông anh thế nào bây giờ đây. Lúc tập trung
tiểu đội, tôi hơi cuống và giới thiệu liền một mạch:
- Tôi - Tuấn tròn, người Hà Nội, tiểu đội trưởng. Còn các ông anh? Tên gì, ở đâu?
Mọi người đưa mắt nhìn nhau, rồi nhìn tôi hơi có vẻ ngỡ ngàng. Có một anh bỗng đứng dậy hô rất
to:
- Tôi, binh nhất Trần Vòng, lính 75!
Rồi cứ thế... Sơn 75, Ần 75, Bình 75, Sáng 75, Soạn 75, Bình voi 75, Cường 75, Long Fulro 74,
Khang 74,
Và cuối cùng:
- Hùng 74. Báo cáo: Hết!
Điểm danh với nhau xong mọi người phá lên cười. Cười vì cái cách của tôi cũng ngang tàng không
kém gì các đàn anh. Tôi biết, vậy là ổn. Tôi tranh thủ phổ biến công việc vận tải của chúng tôi phải
làm là mang súng, đạn dược xuống tận các chốt chiến đấu, đưa thương binh tử sĩ về hậu phẫu trung
đoàn.
Tất cả sẵn sàng chuẩn bị cho chiến đấu! Đêm Noel 24 tháng 12.1977, chúng tôi hành quân từ Sa
Mát vào sát biên giới, đóng quân dọc con suối Đà Ha. Con suối này một phần nằm trên đất Việt Nam,
một phần nằm trên đất Campuchia, nếu không có chiến tranh thì chắc con suối này sẽ là con suối rất
thơ mộng như cái tên của nó. Nhìn con suối nước trong veo, róc rách chảy hiền hòa và những cây leo
từ trên cây cổ thụ thõng xuống dòng nước thế này sẽ không ai có thể tưởng tượng được chính con suối
này đã chứng kiến bao nhiêu sự chết chóc của cả hai bên đối địch. Cũng chính con suối này, mỗi lúc
bọn tôi xuống tiểu đoàn về đều qua đây nhảy ào xuống tắm mát vô cùng. Có lần chúng tôi còn bắt gặp
một con trăn, mình của nó bằng bắp chân người, bọn tôi giơ súng lên bắn nó mấy phát chẳng biết nó có
bị trúng đạn không nhưng thấy nó chạy rẽ nước mất hút, làm chúng tôi tiếc ngẩn tiếc ngơ.
Tiếng súng ngày càng gần và càng dữ dội hơn. Chúng tôi ở bên này suối còn địch ở bên kia. Đơn
vị chúng tôi có nhiệm vụ đánh bật địch ra khỏi bản Không tên bên này bờ suối, hất chúng ra khỏi biên
giới của ta. Tiểu đội tôi phụ trách tuyến tiểu đoàn 4. Chỉ có 12 người vừa gùi đạn xuống cho cả một
tiểu đoàn vừa đưa thương binh về tuyến sau.
Trận chiến bắt đầu từ nửa đêm cho tới trưa ngày hôm sau. Lính ta bị thương và hy sinh khá nhiều.
Toàn tiểu đội tôi cứ như con thoi chạy lên, chạy xuống. Riêng tôi đã phải cõng gần chục ca thương
binh, bộ quân phục đang mặc trên người ướt sũng máu của đồng đội. Trong đầu tôi chỉ còn nghĩ được
mỗi một điều: “Phải cõng các anh chạy thật nhanh, không thì các anh chết mất!” - và cứ thế, tôi quên
đi cái cảm giác sợ hãi đến lạ lùng trong khi đạn vẫn cứ chiu chíu quanh tôi...
CHƯƠNG II
Mưa. Mưa thối đất thối cát.
Mùa mưa của miền Tây Nam bộ này ghê thật. Vào đây, tôi mới thấu hiểu được cái mùa mưa mà
trong cuốn tiểu thuyết Mẫn và tôi được nhà văn miêu tả thật đến mức nào. Nằm giữa rừng già, chỉ có
cái võng và cái tăng che đầu, một cơn gió nhẹ là mưa lại ào vào ướt hết cả. Cũng vì mưa mà cả hai
ngày hôm nay tiếng súng trên chốt đỡ hẳn. Thỉnh thoảng mới có vài tiếng AK nổ tằng... tằng... tằng...
như muốn báo với bọn địch rằng ta vẫn luôn cảnh giác.
- Này ông Vòng ơi! Dân Hải Hưng có cái gì nhỉ? - Tôi hỏi. Suốt từ hôm vào chiến dịch tới giờ
tiểu đội chúng tôi mới có thời gian nằm kề bên nhau mà chuyện trò như thế này.
Thằng Vòng như được dịp, liền khoe:
- Nhiều lắm. Xã thằng Sơn, thằng Bình “chân Tiệp” có nhãn lồng bổ ngập dao phay, còn xã thằng
Sáng, thằng Ần có táo thiện phiến ăn ngon và giòn, lại thơm nữa.
- Thế còn xã ông? - Tôi hỏi tiếp.
- Ồi, xã tôi gọi là đất làng vàng. Đất làng vàng là nói thế thôi chứ người đông đất hiếm, mà là đất
phèn chua, chiêm trũng nên chỉ trồng được một vụ lúa, trồng khoai tây gối vụ. Củ nào to nhất cũng chỉ
như hai hạt dái chó. Cực lắm ông ạ.
- Vậy thì xã ông nghèo nhất à?
- Ừ - Vòng trả lời.
- À, ông Vòng này, sao lại gọi thằng Bình là Bình “chân Tiệp''?
Vòng ta cười ha hả:
- Tại gần nhà nó có xưởng làm chân tay giả của Tiệp, nó nghe người ta bảo chân tay giả của Tiệp
là tốt nhất cho nên ngồi đâu, nói chuyện gì, nó cũng nói đến chân giả của Tiệp. Ngoài chuyện đó ra nó
chẳng biết gì hơn. Thế nên mọi người mới gọi nó là Bình “chân Tiệp”.
Cả tiểu đội mười mấy con người mà mỗi người một vẻ. Thằng Sáng thì lúc nào cũng láu ta láu táu,
thằng Soạn - tiểu đội phó của tôi thì cả ngày không nói được nửa câu, vậy mà khi vào trận thì lì không
ai bằng. Thằng Vòng một chữ cắn đôi không biết nhưng tục ngữ và ca dao thì Vòng thuộc không ai
bằng.
Có tiếng gọi cắt ngang dòng suy nghĩ của tôi:
- Ê, Tuấn tròn, Vòng! Sang tao làm điều thuốc lào.
Thì ra nghe tôi và Vòng nói chuyện với nhau, anh Long Fulro đồng hương Hà Nội với tôi chắc
không ngủ được, gọi với sang.
Tôi liền trêu:
- Sang làm gì? Em biết anh định nói gì rồi! Hì hì, em biết thừa anh lại gọi sang nghe chuyện Fulro
chứ gì.
***
Đã mấy tháng ở với nhau cực khổ muôn phần, không thấy anh đả động gì đến cái sống, cái chết lúc
nào cũng kè kè trong gang tấc, mà hễ có dịp ngồi với nhau là anh lại lôi chuyện hồi ở Tây Nguyên
đánh nhau với Fulro. Con người ta kể cũng lạ, dù hiện tại có sung sướng hay cực khổ tới đâu cũng
không ngại, nhưng kỷ niệm xưa thì khó mà phai nhòa được. Hình như những kỷ niệm xưa cũ ấy khiến
cho con người sống có ý nghĩa hơn, mạnh mẽ hơn. Cũng như tôi bây giờ, mới ngày nào còn chưa
lường hết sự ác liệt của chiến trường, nay đã trở thành một anh lính dày dạn.
Những trận chiến dai dẳng, triền miên trong mấy tháng qua nay lại tái hiện qua giây phút nghỉ ngơi
này. Rất may mắn, cả tiểu đội tôi chưa có thương vong nào. Ngày nào chúng tôi cũng làm theo một chu
kỳ khép kín. Ban ngày thì đào hầm, hết đào hầm phẫu thuật thì đến đào hầm sở chỉ huy rồi lại đào hầm
cho thương binh nằm. Hầm chúng tôi đào thường có kích thước rộng 3m, dài 5m, sâu 1m8, trên lát gỗ
để tránh pháo. Tối đến, tải đạn xuống cho các Tiểu đoàn và lấy thương binh, tử sĩ về. Nói tóm lại,
chúng tôi phải lo đủ đạn dược cho toàn trung đoàn.
Một núi công việc khổng lồ tưởng như ngoài sức chịu đựng của con người, vậy mà chúng tôi vẫn
luôn luôn hoàn thành nhiệm vụ. Dù sao vẫn còn sướng hơn anh em bộ binh, cả ngày nằm dưới hầm chữ
A, mưa ướt hết mà lúc nào cũng cận kề với cái chết.
Hồi còn ở nhà tôi đã từng đọc cuốn “Dấu chân người lính”, cái khổ cực, cái ác liệt của các anh,
giờ tôi đã hiểu. Cũng có thể, nhờ cuốn tiểu thuyết này mà tôi bước chân vào đời lính nhẹ nhàng như
trong tiểu thuyết vậy. Tất cả mọi cái như đã sắp sẵn cho tôi, cũng những cánh rừng già đại ngàn, cũng
những cây cổ thụ cao tít tắp, dây leo chằng chịt. Đi dưới rừng già nhiều lúc tôi đã quên đi thực tại vì
rừng đã cho tôi cảm giác bình yên với những giây phút thật hiếm hoi.
Sự khốc liệt là dai dẳng, liên tục và không có “điều nghiên”, không có chuẩn bị cho bất cứ trận
đánh nào. Vì ở giữa lằn ranh giới biên giới, bên này là ta, bên kia là địch suốt mấy ngày không ngớt
tiếng súng nên quân ta bị thương và hy sinh khá nhiều. Theo lệnh của cấp trên thì chúng tôi đưa thương
binh ngay về tuyến sau, còn tử sĩ thì chúng tôi phải tập trung lại, khâm liệm đàng hoàng.
Nói là đàng hoàng, nhưng cũng chỉ quấn vải trắng cho các anh, rồi cho vào nilon. Mấy chục ca hy
sinh chưa đưa về tuyến sau được. Đêm phải thay nhau gác cho các anh, sợ thú rừng đến tha mất xác.
Giữa đêm rừng già, chúng tôi mắc võng nằm ngang trên xác các anh trông chừng.
Hồi đầu, dù có mệt đến mấy, tôi cũng không thể nào chợp mắt được vì chứng kiến các anh hy sinh
có mấy ai lành lặn đâu. Từ những vết thương cứ phát ra tiếng phì phì của ruột gan, tiếng xì xì như
những tiếng thở dài... Chúng tôi như nghe được cái chết cuối cùng của từng tế bào trong cơ thể con
người. Vậy mà cũng không có nổi một nén nhang để thắp cho các anh.
Tôi thật may mắn là được làm tiểu đội trưởng của một tiểu đội toàn người dũng cảm, đầy kinh
nghiệm và cũng không kém phần nghịch ngợm cho nên cứ mỗi lần đi phối thuộc với các Tiểu đoàn là
tiểu đội tôi lại lãnh trách nhiệm lên đường.
Lần này, tiểu đội tôi đi phối thuộc với Tiểu đoàn 3, hành quân tiền nhập suốt cả đêm. Tất cả phải
“ngậm tăm” không được nói chuyện, xuyên rừng dưới ánh trăng lúc mờ, lúc tỏ. Tôi và Vòng đi cạnh
nhau, thỉnh thoảng nhắc anh em bám sát kẻo lạc. Đi sau Vòng là tay trung đội trưởng của Đại đội 5,
lúc nào cũng thấy anh ta làu bàu vì thế Vòng ta có vẻ bực lắm.
Đi được một lúc, qua một bãi trống dưới ánh trăng mờ mờ, tôi và Vòng thấy có bãi phân của con
thú rừng nào đó to tròn, thấp thoáng giữa tối và sáng. Vòng ra hiệu cho tôi rồi lấy khẩu AK cọ vào cái
xẻng nghe xoảng một tiếng nhỏ. Hắn ngoảnh lại phía sau tay trung đội trưởng bảo khẽ:
- Tôi rơi cái xoong, ông nhặt hộ tôi cái. Tay Trung đội trưởng tưởng thật nên chẳng để ý, cứ nhằm
chỗ đen đen, tròn tròn là cúi xuống nhặt. Ngờ đâu, anh ta bốc ngay phải bãi phân trâu. Tôi và Vòng ôm
bụng mà cười, mà nào dám cười to? Trong khi chúng tôi ôm bụng cười thì tay trung đội trưởng vẩy tay
lung tung cho phân trâu rơi ra mà mãi không hết. Anh ta nhảy cẫng lên, thở hổn hà hổn hển vì tức quá
mà không phát tiết ra được.
Vòng thấy thế, lủi ngay ra phía sau. Thật ra chúng tôi biết, mới xuất phát được một đoạn chưa có
gì là nguy hiểm lắm nên vẫn có thể vui đùa được. Đi được một đoạn dài nữa, Vòng lại lẩn lên đi đằng
trước, đến chỗ từ bìa rừng đi vào, tranh tối tranh sáng giữa ánh trăng và bóng cây, hắn đang đi tự
nhiên khựng lại, cúi người xuống và nói nhỏ với người đằng sau:
- Có hố đằng trước.
Thế rồi hắn lấy đà nhảy ào qua. Theo quán tính, tất cả những người đi sau cứ theo hắn mà nhảy.
Oái oăm thay, tay Trung đội trưởng kia lại đi cuối. Anh ta nhảy thế nào mà lại rơi phịch ngay xuống
chỗ tối mới biết là bị lừa. Anh ta đau mà vẫn phải bật cười hinh hích vì biết ngay trò này chỉ có thằng
Vòng bày ra. Anh cũng không còn cáu nữa, kể ra không có mấy trò này làm anh em vui hơn thì cuộc
hành quân chắc mệt mỏi lắm.
Còn anh Chiến “sứt” lại khiến tôi nhớ về một lần anh đã “cứu” tôi khỏi bị thằng Xuân đuổi đánh.
Chẳng là, cứ sau mỗi trận đánh, ta lại có đợt bổ xung quân. Quân từ các tỉnh vào nhiều lắm, Thái
Bình, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Bắc, thôi thì đủ mọi miền tha hồ mà nhận đồng hương, cứ ồn ào cả
một góc rừng.
- Ai đồng hương Hải Hưng đây?
- Ai Thanh Hóa nào! - Thái Bình đâu?
Tôi nghe tiếng thằng Xuân, tiểu đội trưởng tiểu đội 2 tìm đồng hương:
- Đựa mô quê ở Nghệ An không hề? Kim Liên quê Bạc đây!
Vì biết đông người nhốn nháo thế này nó không thể nhìn thấy tôi nên tôi bắt giọng trêu luôn:
- Tau! Tau ợ Nghệ An nờ. Rựa mi ở Kim Liên quê Bạc ở chộ mô hề?
Thằng Xuân mừng quá liến thoắng:
- Tau, tau ở ngay đầu xạ nhà Bạc. Rựa mi ở mô?
- Rứa mi còn ngái lắm! Tau ợ.. ợ.. ợ... - Tôi ngắc ngứ.
- Ợ mô? Xuân hỏi dồn.
- Tau ợ... ngay đầu chuồng hôi* nhà Bạ...c! Gần hơn nhà mi nhiều! Không ai có thể nhịn cười thêm
được nữa, bật cười lên ha hả Tiếng cười của chúng tôi vang cả một góc rừng Lúc này Xuân mới biết
là tôi trêu nó, nó chạy đuổi theo tôi, hét lên:
- Cại đồ đồng hương mật gộc!
Vì tôi quê ở Nghệ An, nhưng sinh ra tại Hà Nội nên nó không chịu nhận tôi là đồng hương. Thằng
Xuân đuổi tôi chạy vòng vòng mãi mà không chịu tha cho tôi. Thấy thế, anh Chiến sứt “cứu nguy”:
- Chú để anh điều trị thằng mất “gộc” này.
Nói rồi anh chắn ngang tôi nháy mắt, quát:
- Tuấn tròn, đằng sau quay.
Anh được gọi là Chiến “sứt” bởi một lần anh với thằng Soạn khiêng thương binh về trạm quân y,
nhưng chẳng hiểu thằng Soạn đi trước mắt mũi thế nào mà lại vấp ngã làm anh cũng ngã theo. Qui tắc
của lính cứu thương là bất cứ lý do gì cũng không để thương binh chạm đất do đó bị ngã nhưng theo
phản xạ hai tay anh Chiến vẫn phải nâng cao đầu tăng và lẽ đương nhiên mặt anh phải chạm đất. Mặt
mũi trầy xước bê bết máu mà chẳng dám kêu, còn chiếc răng cửa thì bị sứt mất một miếng. Từ đó ai
cũng gọi anh là Chiến sứt.
Anh là người nhiều tuổi nhất đại đội, sinh năm 1951 mà mãi đến năm 1976 anh mới đi bộ đội.
Anh kể với tôi hồi học cấp 3 ở Bắc Giang anh là học sinh giỏi có tiếng, năm 1968 anh trúng tuyển đại
học được 26 điểm nhưng chỉ vì lý lịch bố anh theo cách mạng lại yêu một ca nương là mẹ anh mà anh
không được nhập học. Hồi đó, bố anh theo cách mạng đang ở vùng tự do bỗng đâu trở về Bắc Giang
là vùng địch tạm chiếm lấy mẹ anh rồi ở lại luôn. Không được học Đại học phải chuyển sang học
trung cấp, anh chán lắm, xung phong đi bộ đội cũng không được đi mãi cho đến lúc lấy vợ có con gái
hai tuổi người ta mới gọi anh nhập ngũ...
Tiểu đội tôi, mỗi người một vẻ nhưng cứ sống với nhau thật hồn nhiên như vậy.
CHƯƠNG III
Mấy tháng nay, không ngày nào ngớt tiếng súng. Đã có hơn chục thằng vào cùng đợt với tôi hy sinh
rồi. Mới hôm nào Noel mà bây giờ đã đến Tết. Nhanh quá. Căn cứ vào tình hình chiến đấu, cả đơn vị
chúng tôi phải ăn Tết sớm. Mỗi người được một cái bánh tét, hai bao thuốc lá Lao động, mấy gói kẹo,
coi như cũng hòm hòm cho cái Tết chiến trường. Cả Trung đoàn chốt giữ dọc biên giới dài khoảng 15
km trong cánh rừng già Tây Ninh, dọc theo sông Vàm Cỏ Tây.
Rừng ở đây khác với rừng ngoài Bắc nhiều, không ẩm thấp, cheo leo mà bằng phẳng đẹp tuyệt.
Những lúc ngớt tiếng súng hoặc đi tải đạn về, tôi lại lang thang trong rừng, ngắm những cây to mà cả
mấy người ôm không xuể. Cây cối, dây leo ở đây chằng chịt, rậm rạp mà lại khô ráo vì dưới chân toàn
cát. Có thể nằm lăn ra ngay dưới cát mà nghe chim kêu, vượn hú mỗi khi trời chiều hoặc trong lúc
tiếng súng tạm thời im lặng - sự im lặng mang dáng hình chết chóc ập tới lúc nào không hay.
Vào những đêm trăng có loài đom đóm to như ngón tay út cứ s
Truyện của lính Tây Nam
Thủy Hướng Dương
Tạo và hiệu chỉnh ebook: Hoàng Nghĩa Hạnh
Diễn đàn Tinh Tế
Dự án ebook định dạng epub chuẩn cho mọi thiết bị di động
http://dl.dropbox.com/u/46534480/library/_catalog/
OPDS catalog:
http://dl.dropbox.com/u/46534480/library/_catalog/index.xml
Lời tác giả
Thưa bạn đọc!
Chiến tranh đã lùi xa chúng ta đã khá lâu. Quãng thời 30 năm kể từ khi kết thúc chiến tranh biên
giới đến nay đủ để ký ức vui buồn về nó đang dần trôi xa... Nhưng dù sao đi nữa, những người lính
cầm súng những năm chống Mỹ cứu nước và nhất là những người lính chiến đấu trong những năm
1976 -1979 vẫn còn sống quanh tôi tới ngày nay, chính họ đã làm nên bản tình ca bất diệt cho lòng quả
cảm hy sinh vì đất nước. Nhờ có những người lính năm xưa, tôi đã thấy giá trị của sự yên bình mà tôi
đang được sống. Cũng vì lẽ đó tôi muốn viết về họ với một niềm tự hào từ sâu thẳm trái tim mình.
Khi tôi thực hiện viết cuốn sách thì một số nhân vật của tôi đã vào tuổi xưa nay hiếm, số khác
cũng không còn khoẻ mạnh. Nếu tôi chậm trễ chút nữa thì rất có thể, rất nhiều tư liệu quí báu về chiến
tranh sẽ không còn đến tay tôi cùng độc giả hôm nay và mai sau. Vì tôi biết, hiện nay còn có quá nhiều
thông tin về chiến tranh đang vô tình bị chìm vào thời gian.
Với tinh thần nâng niu những gì thuộc về ký ức chiến tranh, tôi cố gắng thu thập thông tin từ những
người lính đã từng tham gia chiến tranh biên giới Tây Nam, những người chỉ huy và cả những người
mẹ, người vợ của họ để làm tư liệu viết nên cuốn sách “Chuyện của lính Tây Nam” này, với mong
muốn đem đến cho độc giả cảm xúc chân thật nhất về chiến tranh biên giới Tây Nam - điều mà bấy lâu
nay ít ai biết tới.
Nhân vật chính trong cuốn sách tôi viết là một người lính vận tải có nhiệm vụ chính là tải thương,
tải đạn. Cũng bởi anh lính không phải trực tiếp tham gia chiến đấu nên anh có nhiều cơ hội quan sát
khá tinh tế về những gì xảy ra xung quanh anh chăng?
Trong câu chuyện của tôi, với nhận thức của lứa tuổi 20 trong thời điểm bấy giờ, người lính trẻ cư
xử và suy nghĩ rất tự nhiên như chính cuộc sống chiến trận đã tạo nên. Anh ta đã có lúc hèn nhát, có
lúc rất kiên cường…
Tuy nhiên, vì khả năng có hạn nên cuốn sách tôi viết có thể chưa chuyển tải hết tinh thần khốc liệt,
tầm vóc của cuộc chiến... hay một vài chỗ chưa vừa lòng bạn đọc. Rất mong bạn đọc lượng thứ và
góp ý.
Trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, tháng 8 năm 2010
Thủy Hướng Dương
CẢM NHẬN
Có lẽ Thủy Hướng Dương là một người phụ nữ đã dành một tình yêu với lính rất đặc biệt tới mức
hòa nhập được cảm xúc thực của người lính trong chiến tranh.
Chuyện viết rất thực, nêu bật được tình hình cam go và khốc liệt của chiến trường Campuchia lúc
đó. Điều mà chỉ có người lính tham chiến thật mới hiểu và viết lên những sự thật mà sách báo không
dám nói như thế.
Cảm ơn Thủy Hướng Dương đã chịu khó nghe kể chuyện lính, hỏi kỹ tình tiết và viết nên được câu
chuyện rất thật, rất bi hùng này của những người lính tình nguyện Campuchia một thuở.
Vũ Chiến
Lính tình nguyện Campuchia.
Có cảm giác chị Thủy Hướng Dương viết truyện này cứ như đã trực tiếp tham gia trong chiến
tranh, từ cách thể hiện diễn biến tâm lý, tình cảm của nhân vật đến diễn biến của các trận chiến, thật
khốc liệt với những mất mát đau thương. Có những đoạn khiến người đọc như đang ở trong hoàn cảnh
đó, hồi hộp đến nghẹt thở rồi phải trào nước mắt vì xúc động. Chiến tranh được mô tả trần trụi khốc
liệt đầy sinh động về người lính qua ngòi bút của cây viết nữ thật đáng khâm phục.
Cung Diễm
Sinh sau năm 1970, Thủy Hướng Dương chỉ nghe kể chuyện lúc rảnh rỗi thôi mà viêt được những
mấu chuyện lính rất thật, như người trong cuộc, khiến tôi kinh ngạc và thán phục cô ấy. Những mẩu
chuyện viết rất chân thật, mạch lạc và dễ cảm nhận. Thủy Hướng Dương đã mô tả cuộc sống đời lính
rất thật, muôn hình muôn vẻ, “rất lính”.
Trinh sát
Thành viên Quansuvn.net
Thủy Hướng Dương có lối viết dung dị - dung dị như đời lính. Có lẽ vì bản thân hiện thực khốc
liệt cả máu, nước mắt, nụ cười, vừa mang đậm chất hùng ca vừa mang chất bi kịch đã tự thân toát lên
sức hấp dẫn của nó mà không cần pha thêm một chút mắm muối, hay màu mè.
Qua câu chuyện của Tuấn “tròn”- một anh lính vận tải (rồi “có chức”) vui tính, thông minh, mê văn
chương có khả năng quan sát tốt, một góc cuộc chiến tranh biên giới Tây Nam đã hiển hiện sống động.
Tính khốc liệt của cuộc chiến, tình đồng đội, những chi tiết thú vị của đời lính, sự hài hước vui đùa,
những trò nghịch ngợm để quên đi lằn ranh mong manh giữa sống và chết...
Đặc biệt nhiều trang viết đậm đặc những chi tiết đắt giá, xúc động của người lính, khi trung đội
của Tuấn nỗ lực đánh đổi cả mạng sống của mình để đưa tử sĩ về chôn, khi Ấn sa chân vào hố chôn
người của bọn Pôn Pốt hay khi 6 người bạn của Tuấn cùng hy sinh một thời điểm khi xe bò của họ
trúng mìn...
... Thủy Hướng Dương đã lựa chọn một đề tài “độc”. Chủ đề quân đội không “độc”, nhưng mảng
đề tài chuyên biệt trong chủ đề lớn quân đội mà chị chọn là “độc”.
Nhà báo Việt Văn
(Báo Lao động)
CHƯƠNG I
Đầu tháng 12 năm 1977, đơn vị tôi đang đóng quân ở Bỉm Sơn - Thanh Hóa thì được lệnh vào
chiến trường Tây Nam để chiến đấu. Cả đơn vị xôn xao, bàn tán suốt cả ngày. Lại chiến tranh ư? Vừa
giải phóng Miền Nam xong, mới thống nhất đất nước, sao còn đánh nhau nữa? Mà đánh nhau với ai
kia chứ? Cứ tưởng rằng đợt lính nhập ngũ năm 1976 chúng tôi chỉ còn là lính nghĩa vụ, đi để xây dựng
một quân đội thật chính quy và hiện đại thôi. Ai ngờ...
Nhưng cũng đúng thôi, chúng tôi được biên chế vào quân đoàn 1, F320, E48 - quân chủ lực cơ
mà. Hơn nữa quân đoàn này có truyền thống trăm trận trăm thắng, nổi tiếng từ hồi chống Mỹ.
Cho đến lúc này thì đơn vị tôi, nhất là C11 toàn lính Hà Nội. Hầu hết chúng tôi đều ở cùng tiểu
khu Quang Trung, quận Đống Đa nên một số đã quen biết nhau vì đều cùng học với nhau ở trường cấp
3 Đống Đa cả.
Từ bây giờ, chúng tôi mới bắt đầu theo dõi thời sự qua Đài tiếng nói Việt nam, biết rằng ở Xa
Mát, Lò Gò, Tây Ninh vừa có một vụ thảm sát cả cô lẫn trò trường tiểu học Xa Mát cùng một số dân
thường ở đó do quân Khmer Đỏ tràn sang gây hấn.
Cả đơn vị tôi sục sôi. Ai cũng muốn mau chóng được vào ngay chiến trường. Tôi cảm thấy trong
đại đội tôi không có ai tỏ ra lo sợ cả, mặc dù chưa ai biết đánh nhau là gì và sẽ như thế nào. Trong
những ngày chờ đợi, chúng tôi ai cũng tranh thủ viết thư về nhà, cho gia đình, bố mẹ, người yêu... là
mình chuẩn bị “được” vào Tây Ninh chiến đấu.
Sốt ruột chờ đợi, rồi cũng có lệnh lên đường. Sáng ngày 15-12- 1977, tất cả chúng tôi rời Bỉm
Sơn - Thanh Hóa, nơi đã gắn bó chúng tôi gần một năm trời với bao kỷ niệm vui, buồn.
Cả Trung đoàn 48 chúng tôi lên đường! Không phải, cả sư đoàn thì đúng hơn. Quân, tư trang thật
gọn nhẹ chỉ với một ba lô con cóc, chúng tôi ra đi chiến đấu, rời miền Bắc thân yêu, nhẹ nhàng như là
một buổi đi tập dã ngoại và hiện đại hơn lớp cha anh thời chống Mỹ ở chỗ chúng tôi được hành quân
bằng ô tô thay vì phải đi bộ hàng tháng trời mới vào tới chiến trường. Từng đoàn xe ô tô, chở cả trung
đoàn vào biên giới Tây Ninh, nơi chiến trường mới đang chờ đón.
Trên suốt dọc đường hành quân, tất cả anh em chúng tôi lại càng gắn bó, thân thiết với nhau hơn
bao giờ hết, chốc chốc những lời ca của bài hát “Đại đoàn đồng bằng” và “Tôi xa Hà nội năm tôi
mười tám khi vừa biết yêu” lại vang lên trong mỗi chiếc xe.
Mãi cho đến tối 23-12-1977 thì chúng tôi vào tới Xa Mát, Lò Gò (Tây Ninh) và đổ quân xuống
một cánh rừng giáp biên giới Campuchia. Phần vì mệt do đi đường xa, phần vì lần đầu tiên trong đời
bộ đội nằm đất, ngủ rừng nên lúc đầu chúng tôi túm tụm lại rì rầm trò chuyện nhưng rồi chỉ ít phút sau
đã thiếp đi lúc nào không hay, mặc cho phía sau cánh rừng tiếng súng nổ đì đùng...
***
Sáng ngày hôm sau, tất cả trung đoàn chúng tôi được biên chế lại. Tôi cứ tưởng thế nào tôi cũng
được ở cùng với anh em trong đại đội C11 thân yêu của tôi, nhưng hóa ra không phải. Tất cả chúng tôi
bị chia nhỏ để bổ sung vào các đơn vị khác nhau. Chủ yếu là về F320 và F10 quân đoàn 3. Một số
vẫn ở lại E48, một số về E64, gần một nửa nữa về sư 10 và một ít về E52 trong đó có tôi.
Lúc các đơn vị đến nhận quân, mọi người khẩn trương lần lượt về đơn vị mới. Tôi ôm lấy Vọng
con, Thái, Long Khùa, Vinh kều... rồi gạt nước mắt mà chia tay. Một thoáng suy nghĩ đến sự sống chết
lướt qua trong đầu tôi rất nhanh: “Không biết có còn gặp lại chúng mày nữa hay không”.
Điểm lại tình hình, chỉ còn một số ít anh em, tôi, Dũng con, An, Minh sứt và mấy người nữa... An,
Minh sứt, Thỏa chúng nó được ở với nhau về đại đội công binh, sướng thế! Dũng con và mấy thằng
nữa về bộ binh. Còn lại mỗi mình tôi về đơn vị mới thành lập ngày hôm đó là C25 vận tải.
Tôi phát khóc vì toàn bộ số anh em thân thiết ở đại đội đều được ở với nhau chỉ mỗi tôi phải đi
đơn vị khác. Mặc dù tôi đã cố kìm, nhưng nước mắt vẫn trào ra. Trong tôi tràn ngập cảm giác lạc lõng
vì phải ở một đơn vị toàn người xa lạ. Ở đơn vị cũ, đi bất cứ chỗ nào cũng được anh em gọi: “Ê, Tuấn
tròn, Tuấn tròn... lại đây với bọn tao!” đầy thương mến mà nay phải ở một mình một đơn vị thử hỏi
thằng tôi không khóc làm sao được?
***
Tôi vác ba lô về đơn vị mới và được đề bạt làm tiểu đội trưởng tiểu đội 1. Thật quá ngạc nhiên!
Tôi không hiểu sao mình lại được làm tiểu đội trưởng vì tôi rất nghịch và ngang bướng.
- Kệ, cứ để xem sao - Tôi nghĩ vậy. Tiểu đội tôi có mười hai chiến sĩ và tôi bất ngờ phát hiện ra
tiểu đội mình toàn lính cựu: ba ông lính 74, tám ông lính 75, có mỗi mình tôi là lính 76 mà lại bé loắt
choắt. Tôi đâm lo thật sự. Không biết mình sẽ chỉ huy mấy ông anh thế nào bây giờ đây. Lúc tập trung
tiểu đội, tôi hơi cuống và giới thiệu liền một mạch:
- Tôi - Tuấn tròn, người Hà Nội, tiểu đội trưởng. Còn các ông anh? Tên gì, ở đâu?
Mọi người đưa mắt nhìn nhau, rồi nhìn tôi hơi có vẻ ngỡ ngàng. Có một anh bỗng đứng dậy hô rất
to:
- Tôi, binh nhất Trần Vòng, lính 75!
Rồi cứ thế... Sơn 75, Ần 75, Bình 75, Sáng 75, Soạn 75, Bình voi 75, Cường 75, Long Fulro 74,
Khang 74,
Và cuối cùng:
- Hùng 74. Báo cáo: Hết!
Điểm danh với nhau xong mọi người phá lên cười. Cười vì cái cách của tôi cũng ngang tàng không
kém gì các đàn anh. Tôi biết, vậy là ổn. Tôi tranh thủ phổ biến công việc vận tải của chúng tôi phải
làm là mang súng, đạn dược xuống tận các chốt chiến đấu, đưa thương binh tử sĩ về hậu phẫu trung
đoàn.
Tất cả sẵn sàng chuẩn bị cho chiến đấu! Đêm Noel 24 tháng 12.1977, chúng tôi hành quân từ Sa
Mát vào sát biên giới, đóng quân dọc con suối Đà Ha. Con suối này một phần nằm trên đất Việt Nam,
một phần nằm trên đất Campuchia, nếu không có chiến tranh thì chắc con suối này sẽ là con suối rất
thơ mộng như cái tên của nó. Nhìn con suối nước trong veo, róc rách chảy hiền hòa và những cây leo
từ trên cây cổ thụ thõng xuống dòng nước thế này sẽ không ai có thể tưởng tượng được chính con suối
này đã chứng kiến bao nhiêu sự chết chóc của cả hai bên đối địch. Cũng chính con suối này, mỗi lúc
bọn tôi xuống tiểu đoàn về đều qua đây nhảy ào xuống tắm mát vô cùng. Có lần chúng tôi còn bắt gặp
một con trăn, mình của nó bằng bắp chân người, bọn tôi giơ súng lên bắn nó mấy phát chẳng biết nó có
bị trúng đạn không nhưng thấy nó chạy rẽ nước mất hút, làm chúng tôi tiếc ngẩn tiếc ngơ.
Tiếng súng ngày càng gần và càng dữ dội hơn. Chúng tôi ở bên này suối còn địch ở bên kia. Đơn
vị chúng tôi có nhiệm vụ đánh bật địch ra khỏi bản Không tên bên này bờ suối, hất chúng ra khỏi biên
giới của ta. Tiểu đội tôi phụ trách tuyến tiểu đoàn 4. Chỉ có 12 người vừa gùi đạn xuống cho cả một
tiểu đoàn vừa đưa thương binh về tuyến sau.
Trận chiến bắt đầu từ nửa đêm cho tới trưa ngày hôm sau. Lính ta bị thương và hy sinh khá nhiều.
Toàn tiểu đội tôi cứ như con thoi chạy lên, chạy xuống. Riêng tôi đã phải cõng gần chục ca thương
binh, bộ quân phục đang mặc trên người ướt sũng máu của đồng đội. Trong đầu tôi chỉ còn nghĩ được
mỗi một điều: “Phải cõng các anh chạy thật nhanh, không thì các anh chết mất!” - và cứ thế, tôi quên
đi cái cảm giác sợ hãi đến lạ lùng trong khi đạn vẫn cứ chiu chíu quanh tôi...
CHƯƠNG II
Mưa. Mưa thối đất thối cát.
Mùa mưa của miền Tây Nam bộ này ghê thật. Vào đây, tôi mới thấu hiểu được cái mùa mưa mà
trong cuốn tiểu thuyết Mẫn và tôi được nhà văn miêu tả thật đến mức nào. Nằm giữa rừng già, chỉ có
cái võng và cái tăng che đầu, một cơn gió nhẹ là mưa lại ào vào ướt hết cả. Cũng vì mưa mà cả hai
ngày hôm nay tiếng súng trên chốt đỡ hẳn. Thỉnh thoảng mới có vài tiếng AK nổ tằng... tằng... tằng...
như muốn báo với bọn địch rằng ta vẫn luôn cảnh giác.
- Này ông Vòng ơi! Dân Hải Hưng có cái gì nhỉ? - Tôi hỏi. Suốt từ hôm vào chiến dịch tới giờ
tiểu đội chúng tôi mới có thời gian nằm kề bên nhau mà chuyện trò như thế này.
Thằng Vòng như được dịp, liền khoe:
- Nhiều lắm. Xã thằng Sơn, thằng Bình “chân Tiệp” có nhãn lồng bổ ngập dao phay, còn xã thằng
Sáng, thằng Ần có táo thiện phiến ăn ngon và giòn, lại thơm nữa.
- Thế còn xã ông? - Tôi hỏi tiếp.
- Ồi, xã tôi gọi là đất làng vàng. Đất làng vàng là nói thế thôi chứ người đông đất hiếm, mà là đất
phèn chua, chiêm trũng nên chỉ trồng được một vụ lúa, trồng khoai tây gối vụ. Củ nào to nhất cũng chỉ
như hai hạt dái chó. Cực lắm ông ạ.
- Vậy thì xã ông nghèo nhất à?
- Ừ - Vòng trả lời.
- À, ông Vòng này, sao lại gọi thằng Bình là Bình “chân Tiệp''?
Vòng ta cười ha hả:
- Tại gần nhà nó có xưởng làm chân tay giả của Tiệp, nó nghe người ta bảo chân tay giả của Tiệp
là tốt nhất cho nên ngồi đâu, nói chuyện gì, nó cũng nói đến chân giả của Tiệp. Ngoài chuyện đó ra nó
chẳng biết gì hơn. Thế nên mọi người mới gọi nó là Bình “chân Tiệp”.
Cả tiểu đội mười mấy con người mà mỗi người một vẻ. Thằng Sáng thì lúc nào cũng láu ta láu táu,
thằng Soạn - tiểu đội phó của tôi thì cả ngày không nói được nửa câu, vậy mà khi vào trận thì lì không
ai bằng. Thằng Vòng một chữ cắn đôi không biết nhưng tục ngữ và ca dao thì Vòng thuộc không ai
bằng.
Có tiếng gọi cắt ngang dòng suy nghĩ của tôi:
- Ê, Tuấn tròn, Vòng! Sang tao làm điều thuốc lào.
Thì ra nghe tôi và Vòng nói chuyện với nhau, anh Long Fulro đồng hương Hà Nội với tôi chắc
không ngủ được, gọi với sang.
Tôi liền trêu:
- Sang làm gì? Em biết anh định nói gì rồi! Hì hì, em biết thừa anh lại gọi sang nghe chuyện Fulro
chứ gì.
***
Đã mấy tháng ở với nhau cực khổ muôn phần, không thấy anh đả động gì đến cái sống, cái chết lúc
nào cũng kè kè trong gang tấc, mà hễ có dịp ngồi với nhau là anh lại lôi chuyện hồi ở Tây Nguyên
đánh nhau với Fulro. Con người ta kể cũng lạ, dù hiện tại có sung sướng hay cực khổ tới đâu cũng
không ngại, nhưng kỷ niệm xưa thì khó mà phai nhòa được. Hình như những kỷ niệm xưa cũ ấy khiến
cho con người sống có ý nghĩa hơn, mạnh mẽ hơn. Cũng như tôi bây giờ, mới ngày nào còn chưa
lường hết sự ác liệt của chiến trường, nay đã trở thành một anh lính dày dạn.
Những trận chiến dai dẳng, triền miên trong mấy tháng qua nay lại tái hiện qua giây phút nghỉ ngơi
này. Rất may mắn, cả tiểu đội tôi chưa có thương vong nào. Ngày nào chúng tôi cũng làm theo một chu
kỳ khép kín. Ban ngày thì đào hầm, hết đào hầm phẫu thuật thì đến đào hầm sở chỉ huy rồi lại đào hầm
cho thương binh nằm. Hầm chúng tôi đào thường có kích thước rộng 3m, dài 5m, sâu 1m8, trên lát gỗ
để tránh pháo. Tối đến, tải đạn xuống cho các Tiểu đoàn và lấy thương binh, tử sĩ về. Nói tóm lại,
chúng tôi phải lo đủ đạn dược cho toàn trung đoàn.
Một núi công việc khổng lồ tưởng như ngoài sức chịu đựng của con người, vậy mà chúng tôi vẫn
luôn luôn hoàn thành nhiệm vụ. Dù sao vẫn còn sướng hơn anh em bộ binh, cả ngày nằm dưới hầm chữ
A, mưa ướt hết mà lúc nào cũng cận kề với cái chết.
Hồi còn ở nhà tôi đã từng đọc cuốn “Dấu chân người lính”, cái khổ cực, cái ác liệt của các anh,
giờ tôi đã hiểu. Cũng có thể, nhờ cuốn tiểu thuyết này mà tôi bước chân vào đời lính nhẹ nhàng như
trong tiểu thuyết vậy. Tất cả mọi cái như đã sắp sẵn cho tôi, cũng những cánh rừng già đại ngàn, cũng
những cây cổ thụ cao tít tắp, dây leo chằng chịt. Đi dưới rừng già nhiều lúc tôi đã quên đi thực tại vì
rừng đã cho tôi cảm giác bình yên với những giây phút thật hiếm hoi.
Sự khốc liệt là dai dẳng, liên tục và không có “điều nghiên”, không có chuẩn bị cho bất cứ trận
đánh nào. Vì ở giữa lằn ranh giới biên giới, bên này là ta, bên kia là địch suốt mấy ngày không ngớt
tiếng súng nên quân ta bị thương và hy sinh khá nhiều. Theo lệnh của cấp trên thì chúng tôi đưa thương
binh ngay về tuyến sau, còn tử sĩ thì chúng tôi phải tập trung lại, khâm liệm đàng hoàng.
Nói là đàng hoàng, nhưng cũng chỉ quấn vải trắng cho các anh, rồi cho vào nilon. Mấy chục ca hy
sinh chưa đưa về tuyến sau được. Đêm phải thay nhau gác cho các anh, sợ thú rừng đến tha mất xác.
Giữa đêm rừng già, chúng tôi mắc võng nằm ngang trên xác các anh trông chừng.
Hồi đầu, dù có mệt đến mấy, tôi cũng không thể nào chợp mắt được vì chứng kiến các anh hy sinh
có mấy ai lành lặn đâu. Từ những vết thương cứ phát ra tiếng phì phì của ruột gan, tiếng xì xì như
những tiếng thở dài... Chúng tôi như nghe được cái chết cuối cùng của từng tế bào trong cơ thể con
người. Vậy mà cũng không có nổi một nén nhang để thắp cho các anh.
Tôi thật may mắn là được làm tiểu đội trưởng của một tiểu đội toàn người dũng cảm, đầy kinh
nghiệm và cũng không kém phần nghịch ngợm cho nên cứ mỗi lần đi phối thuộc với các Tiểu đoàn là
tiểu đội tôi lại lãnh trách nhiệm lên đường.
Lần này, tiểu đội tôi đi phối thuộc với Tiểu đoàn 3, hành quân tiền nhập suốt cả đêm. Tất cả phải
“ngậm tăm” không được nói chuyện, xuyên rừng dưới ánh trăng lúc mờ, lúc tỏ. Tôi và Vòng đi cạnh
nhau, thỉnh thoảng nhắc anh em bám sát kẻo lạc. Đi sau Vòng là tay trung đội trưởng của Đại đội 5,
lúc nào cũng thấy anh ta làu bàu vì thế Vòng ta có vẻ bực lắm.
Đi được một lúc, qua một bãi trống dưới ánh trăng mờ mờ, tôi và Vòng thấy có bãi phân của con
thú rừng nào đó to tròn, thấp thoáng giữa tối và sáng. Vòng ra hiệu cho tôi rồi lấy khẩu AK cọ vào cái
xẻng nghe xoảng một tiếng nhỏ. Hắn ngoảnh lại phía sau tay trung đội trưởng bảo khẽ:
- Tôi rơi cái xoong, ông nhặt hộ tôi cái. Tay Trung đội trưởng tưởng thật nên chẳng để ý, cứ nhằm
chỗ đen đen, tròn tròn là cúi xuống nhặt. Ngờ đâu, anh ta bốc ngay phải bãi phân trâu. Tôi và Vòng ôm
bụng mà cười, mà nào dám cười to? Trong khi chúng tôi ôm bụng cười thì tay trung đội trưởng vẩy tay
lung tung cho phân trâu rơi ra mà mãi không hết. Anh ta nhảy cẫng lên, thở hổn hà hổn hển vì tức quá
mà không phát tiết ra được.
Vòng thấy thế, lủi ngay ra phía sau. Thật ra chúng tôi biết, mới xuất phát được một đoạn chưa có
gì là nguy hiểm lắm nên vẫn có thể vui đùa được. Đi được một đoạn dài nữa, Vòng lại lẩn lên đi đằng
trước, đến chỗ từ bìa rừng đi vào, tranh tối tranh sáng giữa ánh trăng và bóng cây, hắn đang đi tự
nhiên khựng lại, cúi người xuống và nói nhỏ với người đằng sau:
- Có hố đằng trước.
Thế rồi hắn lấy đà nhảy ào qua. Theo quán tính, tất cả những người đi sau cứ theo hắn mà nhảy.
Oái oăm thay, tay Trung đội trưởng kia lại đi cuối. Anh ta nhảy thế nào mà lại rơi phịch ngay xuống
chỗ tối mới biết là bị lừa. Anh ta đau mà vẫn phải bật cười hinh hích vì biết ngay trò này chỉ có thằng
Vòng bày ra. Anh cũng không còn cáu nữa, kể ra không có mấy trò này làm anh em vui hơn thì cuộc
hành quân chắc mệt mỏi lắm.
Còn anh Chiến “sứt” lại khiến tôi nhớ về một lần anh đã “cứu” tôi khỏi bị thằng Xuân đuổi đánh.
Chẳng là, cứ sau mỗi trận đánh, ta lại có đợt bổ xung quân. Quân từ các tỉnh vào nhiều lắm, Thái
Bình, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Bắc, thôi thì đủ mọi miền tha hồ mà nhận đồng hương, cứ ồn ào cả
một góc rừng.
- Ai đồng hương Hải Hưng đây?
- Ai Thanh Hóa nào! - Thái Bình đâu?
Tôi nghe tiếng thằng Xuân, tiểu đội trưởng tiểu đội 2 tìm đồng hương:
- Đựa mô quê ở Nghệ An không hề? Kim Liên quê Bạc đây!
Vì biết đông người nhốn nháo thế này nó không thể nhìn thấy tôi nên tôi bắt giọng trêu luôn:
- Tau! Tau ợ Nghệ An nờ. Rựa mi ở Kim Liên quê Bạc ở chộ mô hề?
Thằng Xuân mừng quá liến thoắng:
- Tau, tau ở ngay đầu xạ nhà Bạc. Rựa mi ở mô?
- Rứa mi còn ngái lắm! Tau ợ.. ợ.. ợ... - Tôi ngắc ngứ.
- Ợ mô? Xuân hỏi dồn.
- Tau ợ... ngay đầu chuồng hôi* nhà Bạ...c! Gần hơn nhà mi nhiều! Không ai có thể nhịn cười thêm
được nữa, bật cười lên ha hả Tiếng cười của chúng tôi vang cả một góc rừng Lúc này Xuân mới biết
là tôi trêu nó, nó chạy đuổi theo tôi, hét lên:
- Cại đồ đồng hương mật gộc!
Vì tôi quê ở Nghệ An, nhưng sinh ra tại Hà Nội nên nó không chịu nhận tôi là đồng hương. Thằng
Xuân đuổi tôi chạy vòng vòng mãi mà không chịu tha cho tôi. Thấy thế, anh Chiến sứt “cứu nguy”:
- Chú để anh điều trị thằng mất “gộc” này.
Nói rồi anh chắn ngang tôi nháy mắt, quát:
- Tuấn tròn, đằng sau quay.
Anh được gọi là Chiến “sứt” bởi một lần anh với thằng Soạn khiêng thương binh về trạm quân y,
nhưng chẳng hiểu thằng Soạn đi trước mắt mũi thế nào mà lại vấp ngã làm anh cũng ngã theo. Qui tắc
của lính cứu thương là bất cứ lý do gì cũng không để thương binh chạm đất do đó bị ngã nhưng theo
phản xạ hai tay anh Chiến vẫn phải nâng cao đầu tăng và lẽ đương nhiên mặt anh phải chạm đất. Mặt
mũi trầy xước bê bết máu mà chẳng dám kêu, còn chiếc răng cửa thì bị sứt mất một miếng. Từ đó ai
cũng gọi anh là Chiến sứt.
Anh là người nhiều tuổi nhất đại đội, sinh năm 1951 mà mãi đến năm 1976 anh mới đi bộ đội.
Anh kể với tôi hồi học cấp 3 ở Bắc Giang anh là học sinh giỏi có tiếng, năm 1968 anh trúng tuyển đại
học được 26 điểm nhưng chỉ vì lý lịch bố anh theo cách mạng lại yêu một ca nương là mẹ anh mà anh
không được nhập học. Hồi đó, bố anh theo cách mạng đang ở vùng tự do bỗng đâu trở về Bắc Giang
là vùng địch tạm chiếm lấy mẹ anh rồi ở lại luôn. Không được học Đại học phải chuyển sang học
trung cấp, anh chán lắm, xung phong đi bộ đội cũng không được đi mãi cho đến lúc lấy vợ có con gái
hai tuổi người ta mới gọi anh nhập ngũ...
Tiểu đội tôi, mỗi người một vẻ nhưng cứ sống với nhau thật hồn nhiên như vậy.
CHƯƠNG III
Mấy tháng nay, không ngày nào ngớt tiếng súng. Đã có hơn chục thằng vào cùng đợt với tôi hy sinh
rồi. Mới hôm nào Noel mà bây giờ đã đến Tết. Nhanh quá. Căn cứ vào tình hình chiến đấu, cả đơn vị
chúng tôi phải ăn Tết sớm. Mỗi người được một cái bánh tét, hai bao thuốc lá Lao động, mấy gói kẹo,
coi như cũng hòm hòm cho cái Tết chiến trường. Cả Trung đoàn chốt giữ dọc biên giới dài khoảng 15
km trong cánh rừng già Tây Ninh, dọc theo sông Vàm Cỏ Tây.
Rừng ở đây khác với rừng ngoài Bắc nhiều, không ẩm thấp, cheo leo mà bằng phẳng đẹp tuyệt.
Những lúc ngớt tiếng súng hoặc đi tải đạn về, tôi lại lang thang trong rừng, ngắm những cây to mà cả
mấy người ôm không xuể. Cây cối, dây leo ở đây chằng chịt, rậm rạp mà lại khô ráo vì dưới chân toàn
cát. Có thể nằm lăn ra ngay dưới cát mà nghe chim kêu, vượn hú mỗi khi trời chiều hoặc trong lúc
tiếng súng tạm thời im lặng - sự im lặng mang dáng hình chết chóc ập tới lúc nào không hay.
Vào những đêm trăng có loài đom đóm to như ngón tay út cứ s
 





