https://youtu.be/Sr0rguw-JdU?si=j1Y7MlEGzimltz86
Chào mừng quý vị đến với website của ...
Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Cánh đồng hoang

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Minh Lê
Ngày gửi: 19h:28' 23-10-2025
Dung lượng: 282.0 KB
Số lượt tải: 0
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Minh Lê
Ngày gửi: 19h:28' 23-10-2025
Dung lượng: 282.0 KB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
CÁNH ĐỒNG HOANG
Tác giả : Nguyễn Quang Sáng
Rút trong tập “NGUYỄN QUANG SÁNG - Tác phẩm văn học
được giải thưởng Hồ Chí Minh”
Nhà xuất bản Văn học 2007
Chia sẽ ebook : http://downloadsachmienphi.com/
Tham gia cộng đồng chia sẽ sách :
Fanpage : https://www.facebook.com/downloadsachfree
Cộng đồng Google : http://bit.ly/downloadsach
NGUYỄN QUANG SÁNG - MẤY NÉT TIỂU SỬ VÀ TÁC
PHẨM
Nguyễn Quang Sáng có bút danh Nguyễn Sáng, ông sinh ngày 12-1-1932, nguyên quán tại xã
Mỹ Luông, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang; hiện đang sinh sống và làm việc tại thành phố Hồ Chí
Minh.
Tháng 4 năm 1946Nguyễn Quang Sáng xung phong đi bộ đội làm liên lạc viên cho đơn vị
Liên Chi 2. Năm 1948, ông được đơn vị cho đi học thêm văn hóa ở trường trung học kháng chiến
Nguyễn Văn Tố. Năm 1950, ông về công tác tại phòng chính trị Bộ Tư lệnh phân khu miền Tây Nam
Bộ. Rồi làm cán bộ chuyên nghiên cứu tôn giáo, chủ yếu là Phật giáo và Hòa Hảo.
Năm 1955, Nguyễn Quang Sáng theo đơn vị tập kết ra Bắc, rồi chuyển ngành về làm cán bộ
phòng Văn nghệ Đài phát thanh Tiếng nói Việt Nam. Năm 1957, ông trở thành Hội viên Hội Nhà văn
Việt Nam và cho ra đời truyện ngắn Con chim vàng. Từ năm 1958, ông về công tác ở Hội Nhà văn
Việt Nam, làm biên tập viên Tuần báo Văn nghệ, biên tập nhà xuất bản, cán bộ sáng tác; và cho ra đời
truyện ngắn Người quê hương. Ông nhận Giải thưởng văn học trong cuộc thi viết truyện ngắn báo
Thống nhất cho tác phẩm Ông Năm Hạng, nhận Giải thưởng cuộc thi truyện ngắn tạp chí Văn nghệ
Quân đội cho tác phẩm Tư Quắn vào năm 1959. Năm 1962, ông xuất bản tiểu thuyết Người ở lại; và
năm 1963: tiểu thuyết Đất lửa. Năm 1966, ông vào chiến trường miền Nam, làm cán bộ sáng tác của
Hội Văn nghệ Giải phóng và cho xuất bản truyện vừa Câu chuyện bên trận địa pháo. Năm 1968, ông
cho xuất bản truyện ngắn Chiếc lược ngà; năm 1969 cho xuất bản truyện ngắn Bông cẩm thạch. Năm
1972, Nguyễn Quang Sáng ra Hà Nội và tiếp tục công tác ở Hội Nhà văn. Năm 1975, ông cho xuất bản
truyện vừa Cái áo thằng hình rơm, tiểu thuyết Mùa gió chướng.
Sau ngày giải phóng miền Nam, Nguyễn Quang Sáng trở lại thành phố Hồ Chí Minh, giữ
chức vụ Tổng thư ký Hội Nhà văn thành phố Hổ Chí Minh các khóa 1, 2, 3. Ông cho xuất bản truyện
ngắn Người con đi xa, kịch bản phim Mùa gió chướng vào năm 1977 - được nhận Huy chương bạc
Liên hoan phim toàn quốc năm 1980; kịch bản phim Cánh đồng hoang vào năm 1978 - được nhận
Huy chương vàng Liên hoan phim toàn quốc năm 1980; Huy chương vàng Liên hoan phim Matxcơva
năm 1981; truyện ngắn Bàn thờ tổ của một cô đào, tiểu thuyết Dòng sông thơ ấu vào năm 1985 và
cùng năm, được nhận giải thưởng Hội đồng văn học thiếu nhi Hội Nhà văn cho tiểu thuyết này; kịch
bản phim Mùa nước nổi vào năm 1986; truyện ngắn Tôi thích làm vua, kịch bản phim Dòng sông hát,
Câu nói đầu tiên vào năm 1988; 25 truyện ngắn vào năm 1990; truyện ngắn Con mèo Fujita vào năm
1991 - nhận giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam năm 1993; kịch bản phim Thời thơ ấu, Giữa dòng,
Như một huyền thoại vào năm 1995. Năm 1996, ông cho xuất bản tập I, II và năm 2000 tập III “Tuyển
tập Nguyễn Quang Sáng”.
Năm 2000, ông được tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học Nghệ thuật cho các tác
phẩm: Cánh đồng hoang, Mùa gió chướng, Chiếc lược ngà, Đất lửa.
TÁC PHẨM CHÍNH
- Con chim vàng (NXB. Kim Đồng, 1957);
- Người quê hương (NXB. Văn học, 1960);
- Đất lửa (NXB. Văn học, 1963);
- Câu chuyện bên trận địa pháo (NXB. Văn học, 1966);
- Người con đi xa (NXB. Tác phẩm mới, 1977);
- Cánh đồng hoang (Kịch bản phim, NXB. Văn nghệ TP Hồ Chí Minh, 1981);
- Chiếc lược ngà (NXB. Văn học, 1962);
- Dòng sông thơ ấu (NXB. Kim Đồng, 1985);
- Mùa nước nổi (Truyện phim, Sở VHTT Đồng Tháp, 1985);
- Truyện ngắn chọn lọc (NXB. Hội Nhà văn, 1996);
- Tuyển tập Nguyễn Quang Sáng, tập I, II (NXB. Văn học, 1996);
- Con mèo Fujita (NXB. Hội Nhà văn, 1990),
- Mùa gió chướng (NXB. Văn nghệ Thành phố Hồ Chí Minh, 1999);
- Tuyển tập Nguyễn Quang Sáng, tập III (NXB. Văn học, 2000);
- Nó và tôi (NXB. Kim Đồng, 2002),
- Tạo hóa dưới trần gian (NXB. Trẻ, 2003).
CÁNH ĐỒNG HOANG
Mùa nước.
Ngọn gió đêm dậy lên từ một nơi xa trênnh đồng nước thổi qua vạt rừng tràm thưa. Dưới
bầu trời đầy sao của Tháp Mười, sóng lấp loáng nối theo nhau tràn qua, có đợt như cố vươn lên liếm
cái sàn nhà treo dưới tàn lá cây tràm.
Một tiếng pháo xuất phát từ căn cứ Bình Đức của quân Mỹ, nổ vu vơ. Tiếng nổ vang dài
theo mặt nước. Tiếng pháo nổ to nhưng Sáu Xoa lại giật mình thức giấc vì thói quen và một đợt sóng
đánh tạt qua cây tràm gần đầu nằm của chị. Sáu Xoa trở mình, nhờ ánh sao từ trên bầu trời cao và dưới
mặt nước, chị vừa bới lại tóc vừa nhìn giấc ngủ của chồng và con.
Nhà chị, một cái nhà lạ lùng ít thấy. Ngôi nhà trên mặt nước, cột nhà là những cây tràm
sống. Sàn nhà là cái sạp tre dài độ ba thước và bề ngang hơn hai thước, vừa đủ nằm trong khoảng
trống của một cụm tràm. Cái sạp tre nhỏ bé vừa là giường ngủ, vừa là chỗ bếp núc, chỗ chơi đùa của
đứa con, là tất cả mọi sinh hoạt trong gia đình chị.
Bới tóc xong, chị vén mùng, bật hộp quẹt đốt đèn. Cái đèn trứng vịt, ngọn đèn nhỏ hột đậu,
tỏa một ánh sáng nhỏ, đủ cho chị làm việc. Sáu Xoa, một người đàn bà trẻ, khỏe và đẹp.
Ngoài trời gió vẫn thổi. Gió lao xao qua tàn lá trên mái nhà. Sóng vẫn ràn rạt dưới sàn, và
đâu đó một con cá quẫy một con đớp mồi. Những vòng sóng trên mặt nước bung rộng ra dưới ánh sao.
Cử chỉ nhẹ nhàng, sợ động đến giấc ngủ của chồng, con, Sáu Xoa chuẩn bị những việc cần
thiết cho chuyến đi của chồng. Chị xé nửa bánh thuốc, lấy một cuộn giấy quyến, cái hộp quẹt đá cho
vào cái túi ni lông, lấy sợi dây thun buộc cẩn thận. Xong, chị lựa từng con khô sặc để vào chiếc cà rò
Vừa lúc đó, có tiếng chim kêu. Tiếng chim đêm nghe khác thường. Sáu Xoa quay vào, gọi
khẽ:
- Mình ơi, mình!
Anh Đô chồng chị, đã thức, anh tằng hắng, rồi với một động tác - không ngái ngủ, anh co hai
chân, đưa hai tay ôm vòng qua hai gối, như có lò xo, anh bật dậy. Anh vén mùng - cái mùng bằng vải
dù trái sáng nhuộm màu xanh lam nham - ngồi gần bên vợ. Anh Đô - chồng chị - nông dân Tháp Mười,
một người đàn ông khỏe mạnh, ba mươi tuổi, màu da đậm đà. Có lẽ vì ở giữa cánh đồng nước, không
có người cắt tóc nên mái tóc của anh bù xù, hơi dài, tóc đâm đến vành tai, râu lún phún. Mày rậm, mắt
to và sáng rực. Mũi cũng to và tròn, người ta gọi là mũi lân và môi dày. Dù mặc áo bà ba, nhưng cũng
có thể biết: bắp tay anh cuồn cuộn và lồng ngực anh căng phồng.
Không nói không rằng, anh thò chân xuống sàn, đặt bàn chân lên lái xuồng, đẩy chiếc xuồng
ba lá ra khỏi sàn Anh bước xuống. Với sức mạnh của anh, mũi xuồng hất lên. Anh cầm cây sào, rà
xuống nước, cho mũi xuồng quay ra, nhún mình, chống sào, chiếc xuồng vút đi như con thoi.
Một lát sau, anh quay lại, cho xuồng cặp lại sàn nhà, cầm cái rọ giơ lên, cái rọ đầy cá sặc,
anh mở hom trút cá vào cái khạp da bò để bên bếp. Cái rọ thứ hai cũng đầy cá. Sáu Xoa nhìn từng cử
chỉ của chồng.
- Mình để em! Đi đi, anh em người ta chờ.
Nói xong, chị bưng cà ròn khô cá sặc để xuống xuồng, đưa gói thuốc cho chồng, rồi cầm
chai nước mắm, rót vào chén, đưa tận tay anh
- Mình uống chén nước mắm, cho đỡ lạnh.
Anh Đô đưa tay bưng chén, đưa lên miệng uống ừng ực, Sáu Xoa nhìn chồng với đôi mắt âu
yếm. Uống xong, anh ngồi xuống lái, cầm chén khoát khoát nước để rửa chén, múc nước súc miệng.
Xong, anh đặt chén lên sàn nhà, cầm cây sào, chống sào xuống nước, nói mà không nhìn vợ:
- Mới có đầu tháng chín mà nước đã lên đến một sải rồi!
- Hai đêm nữa thì nước liếm tới lưng rồi. - Sáu Xoa nói.
- Mai phải lên nhà! - Nói vậy rồi anh rùn mình, chống sào. Chiếc xuồng băng đi.
Anh vừa chống xuồng và nhìn bầu trời mông mênh lấm tấm sao. Tiếng pháo từ căn cứ Bình
Đức vẫn nổ vu vơ trên cánh đồng. Tiếng pháo nổ trong đêm vắng và trên đồng nước, tiếng pháo rền và
vang xa.
Chiếc xuồng của anh ra khỏi vạt tràm. Cái vạt tràm có ngôi nhà của anh là vạt tràm nhỏ, lưa
thưa trên cánh đồng. Còn cái vạt tràm dày đặc là một cụm rừng già ở trước mặt anh, những cây tràm
cao, lá dày đặc. Ở xa nhìn như một bóng đen khổng lồ nổi trên mặt nước.
Nếu ngôi nhà của anh nằm giữa cụm rừng tràm dày đặc ấy, sẽ kín đáo hơn. Nhưng vốn có
nhiều kinh nghiệm với chiến trường, chính cái nơi kín đáo ấy là mục tiêu của trực thăng, của phản lực,
của pháo… Vợ chồng anh đã chọn một cái thế bất ngờ để dựng nhà
Chiếc xuồng anh lao đi trên mặt nước dưới đêm sao, mũi xuồng rẽ sóng nghe ràn rạt đều
đều.
Nghe tiếng chim, anh làm tiếng chim đáp lại.
Anh cho xuồng cặp lại mí rừng, đi về hướng tiếng chim. Anh cho xuồng băng lại cây tràm
đứng lẻ loi trên mặt nước. Cây tràm lẻ loi ấy được gọi là trạm, là nơi giao khách của đường dây giao
liên của khu về chiến trường Mỹ Tho. Dưới bóng cây tràm ấy đã có một anh giao liên với chiếc xuồng
đang chờ. Chiếc xuồng anh cặp sát lại chiếc xuồng kia. Anh và người giao liên kia quen biết nhau đến
nỗi không cần phải chào hỏi, và cũng không có thói quen bắt tay khi gặp nhau. Anh hỏi:
- Khách bao nhiêu?
- Mười lăm! - Anh giao liên kia đáp.
- Ở đâu về?
- Khu có, Rờ có!
Anh giao liên vừa nói vừa trao quyển sổ học sinh cho anh. Anh lật sổ dưới ánh đèn pin của
anh giao liên, và anh cầm lấy cây bút của anh giao liên, đặt vào giấy, ngoáy một chữ ký. Xong, hai
người không nói gì thêm, anh giao liên kia quày mũi xuồng, chống xuồng băng qua mặt nước mênh
mông.
Còn anh, anh quày vào mí rừng, nói:
- Đi! Các đồng chí!
Từ trong bóng tố của mí rừng, tiếng người lao xao, và tiếng mái dầm động nước. Năm chiếc
xuồng, mỗi xuồng ba người nối nhau, đâm mũi ra, hướng theo chiếc xuồng anh.
Trên mặt nước mênh mông của cánh đồng không có những con đường mòn, người đi phải đi
theo hướng. Anh giao liên Đô lấy những vạt rừng, những tàn cây xa còn nhô trên mặt nước làm mốc,
theo thói quen và thuộc lòng như quán tính, anh hướng dẫn đoàn xuồng cán bộ, đi giữa trời nước lu
mù. Hễ gặp một dề lục bình thì anh dùng cây sào vít lên để ngụy trang, đi một đoạn xa, xuồng anh
thành một chiếc xuồng chở lục bình. Và những chiếc sau, cũng như anh, xuồng được ngụy trang bằng
lục bình từ mũi đến lái.
Đi trên cánh đồng mà như đi đêm trên mặt biển. Đi trong tiếng gió lạnh của đồng nước, và
tiếng pháo nổ rền rền.
Chợt”có tiếng trực thăng “lạch cạch” từ xa. Anh Đô rà cây sào, quay lại sau, ra lệnh:
- Tản ra!
Lập tức, những chiếc phía sau, mái dầm rà lại, chiếc hướng về phải, chiếc hướng bên trái,
mỗi nơi một chiếc.
Anh Đô cầm cây sào, đưa một chân quèo cây sào, ngồi nghỉ, cầm cây CKC, lấy vạt áo lau
súng.
Tiếng trực thăng nghe mỗi lúc một gần, đã thấy cây đèn lái của nó, chớp tắt, chớp tắt. Và
không xa lắm, từ trên chiếc trực thăng, đèn phực sáng, một thứ ánh sáng trắng xanh ma quái chiếu rọi
xuống một vùng. Anh Đô đứng dậy đưa tay làm loa nói l
- Nó tới, lặn không cho nổi sóng.
- Lục bình đội lên đầu!
- Xuồng phải giữ chặt!
Nói xong, anh sửa soạn lại xuồng. Anh rải lục bình từ mũi đến lái, và cây súng CKC của
anh để nằm dọc theo khoang xuồng dưới lục bình.
Chiếc trực thăng đi soi đêm, chẳng biết thấy gì, nó quần đảo và bắn. Đạn từ trong súng trên
chiếc trực thăng nối nhau như một đường lửa.
Ở cụm rừng thưa, sau khi anh Đô chống xuồng đi, Sáu Xoa tắt đèn, vào mùng, nằm trên cái
chỗ của chồng. Chỗ chị nằm, sát đầu sạp tre, nếu vô ý lăn qua, chị sẽ rơi xuống nước. Nhưng chị đã
quen. Chị kéo đứa con sát vào lòng. Thằng con của chị, một tuổi, ngủ ngon lành trong hơi ấm của mẹ.
Chợt nghe tiếng súng của trực thăng, chị choàng dậy, vén mùng, ngồi bên sạp, thòng chân
xuống gần mặt nước nhìn về hướng súng nổ. Trong ánh sáng lờ mờ của ánh sao dưới bóng của cây
tràm, chỉ có thể thấy rõ đôi mắt của chị, đôi mắt lo âu nhưng không bối rối.
Trạm giao liên của vợ chồng chị là trạm nối giữa đường dây của Khu và tỉnh Mỹ Tho. Ba
ngày một chuyến đi. Suốt bao nhiêu năm nay, đêm nào và chuyến đi nào của chồng, chị cũng nghe tiếng
súng như vậy, đã thành quen, lo âu mà không bối rối.
Tiếng súng dứt, tiếng trực thăng nghe xa, chị giở mùng, dù không thấy, nhưng nghe qua tiếng
súng, chị đoán biết. Chị mừng nhưng chẳng biết chia sẻ với ai, chị nói với đứa con đang ngủ:
- Ba con vượt ra khỏi tầm súng của nó rồi.
Chị nằm xuống nghiêng mình, hôn lên vầng trán nhỏ bé của con.
*
* *
Chiếc trực thăng, sau khi quần bắn một vùng nước còn cỏ dại mà chúng nghi ngờ, nó lại bay
đi.
Anh Ba Đô nhìn cái đèn lái chớp tắt của trực thăng, anh vừa cởi áo, cởi cả quần và ra lệnh:
- Chuẩn bị lặn!
Chiếc trực thăng bay tới, và tất cả các cán bộ trên xuồng đều tuột xuống nước.
Chiếc trực thăng phực đèn. Từ trên nhìn xuống, lính Mỹ nhìn thấy một vùng nước mênh
mông với những dề lục bình. Nó đảo qua một vòng, thấy không có điều gì đáng nghi ngờ, nó tắt đèn
bay đi.
Từ dưới mặt nước, Ba Đô và anh em cán bộ lần lượt trồi lên, thở khì khì.
Đoàn xuồng lại đi trên mặt nước mênh mông..
Ba Đô đưa đoàn khách đến trạm, một ngôi nhà trong vườn cây ăn trái của tỉnh Mỹ Tho.
Trưởng trạm là cô giao liên trẻ, tuổi độ hai mươi, khỏe, ngăm đen. Sau khi giao khách cho trạm, Ba
Đô trao cái cà ròn khô cho cô giao liên:
- Mua giùm tôi sữa, thuốc nóng lạnh với một cái khăn cho vợ tôi.
- Thương vợ thương con dữ há.
- Vợ con không thương thì thương ai! - Anh cười hề hề. . .
*
* *
Sao lặn. Trời chưa đâm mây ngang, nhưng đã mờ sáng. Sáu Xoa dậy sớm, cơm nước đã nấu
xong. Thằng con vẫn còn ngủ. Chị thắp đèn. Trời vào lúc mờ sáng này, máy bay giặc không thể phát
hiện được ngọn đèn.
Mặt nước dưới sàn nhà xao động. Sáu Xoa ngẩng nhìn ra xa. Mũi xuồng của anh Ba Đô ló
ra, đâm thẳng lại nhà. Chị nhìn chồng, cười và nói với đứa con đang ngủ:
- Ba về!
Ba Đô cho xuồng cặp sát lại sàn nhà, anh ném lên sàn xấp vải. Sáu Xoa cuốn mùng xong,
chị cầm xấp vải hoa đỏ ướm thử lên mình thằng con trai bầu bĩnh, mặt chị rạng rỡ niềm vui. Rồi chị
cầm xấp vải đem trải dài theo hai chân, chị nhìn chồng, cười sung sướng và bẽn lẽn.
- Ăn cơm đi mình!
Ba Đô leo lên sạp.
- Tụi nó khỏe? - Chị hỏi.
- Khỏe. - Anh đáp lại một tiếng gọn.
Cuối cùng, chị cầm cái túi ni lông xanh to như bao bố, đưa lên và xem xét thận trọng đường
ghép trong túi. Đôi mắt của chị thoáng nỗi lo âu!
Trong lúc chị xếp lại mùng mền để gọn vào cái bòng bột thì Ba Đô dọn chén. Anh giở nắp
nồi cơm, khói lên nghi ngút ngon lành.
Cơm nước xong, Sáu Xoa xuống xuồng. Cũng chiếc xuồng ba lá, nhưng nhỏ hơn chiếc xuồng
đi giao liên của anh Đô, chiếc xuồng câu của gia đình chị. Chị mặc chiếc quần bà ba đen ni lông láng
đến nỗi trông như cái quần ướt, chiếc áo hoa xanh và choàng qua cổ bằng tấm vải dù bông. Đứng trên
lái, cầm cây sào, chị dặn chồng:
- Sữa em pha rồi!
Chiếc xuồng của chị lao qua khỏi cụm điên điển. Trời đã rõ mặt người. Bấy giờ ta mới thấy
rõ mặt của Sáu Xoa. Một cô gái cao cao, dong dải khỏe mạnh. Chiếc mũi dọc dừa với đôi môi nhỏ
thật xinh, đẹp nhưng lại toát lên vẻ gan góc bướng bỉnh với cái trán dô. Choàng qua người tấm vải dù
bông, cùng với chiếc xuồng lướt đi trên mặt nước đang bốc hơi lờ mờ của buổi sáng sớm, với vạt vải
dù lất phất bay, xa trông như một bức tranh.
Cũng như chồng đi trong đêm, chị vớt lục bình lên xuồng để ngụy trang, nhưng không chỉ có
ngụy trang che mắt địch, trong cách ngụy trang xuồng của Sáu Xoa lại mang thêm một vẻ đẹp dịu dàng
của một cô gái. Khi xuồng lướt qua một vùng bông súng, lá bông súng tròn với cánh hoa trắng xinh
xắn, Sáu Xoa dừng xuồng, ngắt những chiếc lá có hoa đẹp, để chen trong dề lục bình. Xuồng chị như
một chiếc xuồng chở hoa đi hội.
Sáu Xoa rà cây sào cho xuồng cặp lại bên rìa rừng lác. Lác mọc cao hơn mặt nước, xanh
ngắt. Xuồng đi vào một luồng nước giữa rừng lác. Dưới cái luồng nước này, mùa khô, nó là con đường
mòn. Sáu Xoa ngồi trước mũi, phăng dây câu. Lưỡi câu đầu tiên dính một con cá lóc bằng cườm tay,
giãy đành đạch, Sáu Xoa gỡ cá, rồi lại móc vào lưỡi một con cá sặc nhỏ. Xong, Sáu Xoa lại phăng
dây câu...
Mặt trời lên. Mặt trời mọc trên cánh đồng mà đẹp như cảnh mặt trời mọc trên mặt biển. Mặt
trời tròn như một quả bóng, đỏ như tiết tươi như từ dưới đáy nước nhô lên, lên nhanh, lên khỏi đường
mây trắng ngang chân trời.
Xa xa trên bầu trời đã có tiếng ào ào của phản lực Mỹ, tiếng bom bi nổ rền như tiếng sấm
dậy, và nơi đó khói trắng đùn lên như một đám mây.
Và tiếng trực thăng nghe mỗi lúc mỗi gần. Chiếc trực thăng, từ một nơi xa, cất cánh từ căn
cứ Bình Đức của quân Mỹ, Sáu Xoa dừng tay, ngẩng nhìn. Một chấm đen nhỏ, đầu chúc xuống như một
con cá rô hiện ra giữa nền trời quang đãng của buổi sáng.
Sáu Xoa choàng tấm vải dù từ đầu đng, nhìn nó. Biết cụm tràm thưa của nhà mình nằm
ngoài tầm tay của trực thăng, chị lại ngồi xuống, tiếp tục phăng dây câu.
Chiếc trực thăng quần đảo, bắn, một mình một vùng trời nước, nó tung hoành như thao tập.
Đang là đà bay, nó vọt thẳng lên, rồi bất thần cắm đầu chúi xuống, tưởng như cắm đầu
xuống đáy nước, nó rà sát mặt nước, sóng cuồn cuộn nổi theo đường bay.
Bất thần nó rà xuống rừng lác. Tấm vải dù bông của Sáu Xoa bay tung lên, tóc của Sáu Xoa
cũng xõa ra, dựng lên, bay theo cơn xoáy của ngọn gió.
Nhanh nhẹn chị tuột xuống nước, đưa tay vạch lác, vùi người vào trong sâu. Chiếc trực
thăng quay lại, rà sát lướt qua đầu chị. Tiếng trực thăng nổ nghe nhức óc, khiến chị phải bụm hai tai.
Trầm mình dưới nước, chỉ nhô lên cổ với đầu vùi qua đám lác, lúc ẩn lúc hiện khi chiếc trực thăng
quần bắn.
Lo lắng nhưng bình tĩnh. Chị ngước nhìn theo trực thăng, khi nó vừa rà qua khỏi đầu, chị lại
chồm dậy, bươn người trong lác, cố trườn qua khỏi vòng bay.
Chiếc trực thăng đầu con cá rô, đang rà sát ngọn lác bỗng nó sựng lại gần bên xuồng chị,
cái đầu nó chúi xuống rồi lui ra (giống như con cá rô đang hửi mồi), gió trước cái mũi của nó xoáy
dậy. Một cụm lác bị quần nát, và từng cánh lục bình, từng cái lá bông súng bị gió xoáy lên, bay tả tơi.
Và chiếc xuồng câu của chị hiện nguyên hình với những con cá trong khoang. Một trái lựu đạn từ trên
trực thăng ném xuống, nổ tung. Từng mảnh ván văng đi. Chiếc trực thăng thu hẹp vòng bay rồi sựng lại
trên cao, cây súng đại liênửa nổ từng tràng chát chúa.
Chiếc xuồng bị nát ra từng mảnh, chìm mất. Phát hiện được mục tiêu, biết có người còn lẩn
tránh đâu đây, chiếc trực thăng lồng lên, khi cất cao, khi rà thấp, lúc dừng lại, tập trung vào một mục
tiêu, quạt cánh, lúc bị dạt ra để lộ một vùng nước - và nó bắn - bắn xối xả, bắn điên cuồng xuống đám
lác.
Sáu Xoa nằm trong tầm đạn. Chị trồi lên ngụp xuống. Sức bị mòn mỏi, chị ngụp lặn mỗi lúc
mỗi nhanh. Chị không đủ hơi để nín lâu dưới đáy nước. Trồi lên, thở vội lấy một hơi, lại hụp xuống.
Có lúc đạn rải qua vùng nước quanh người chị. Khói bốc trên mặt nước, bụi nước bay lù mù.
Có những con cá không chịu nổi sức ép của đạn hỏa tiễn, tức thở nổi lều bều.
Nó bắn hàng giờ, bắn tả tơi cả rừng lác tưởng không còn gì chịu nổi, nó mới bay đi.
Nó quần lại rừng tràm, lại bắn, thấy chưa đủ, nó rà sát xuống cụm trăm thưa của nhà chị.
Khi chiếc trực thăng rà sát qua mái nhà, Ba Đô nhanh nhẹn gom đồ đạc cần thiết để vào
khoang xuồng dưới sàn nhà. Ba Đô cởi áo, mặc quần đùi, vai đeo cây CKC, anh để đứa con lên cổ,
một tay vịn con, một tay đẩy cái thau nhôm lớn, lội đi. Anh lội lại cái hầm nổi của anh cách ngôi nhà
không xa, cái hầm được che kín trong chòm điên điển. Chòm điên điển lưa thưa, lúc nào cũng cao hơn
mặt nước, bông điên điển nở từng chùm vàng đẹp như hoa mai.
Cái hầm nổi của anh cao như một cái gò đất. Cửa hầm được che kín nhờ cây và lá điên điển
uốn oằn xuống mặt nước. Cái cửa hầm cũng đã bị ngập nước, chỉ hé ra một khoảng nhỏ, đen ngòm.
Muốn vào hầm phải lặn vào trong. Thằng con một tuổi của anh không thể lặn được. Nhưng anh đã có
cách, anh để đứa con vào cái thau nhôm, vẹt điên điển, từ từ đẩy cái thau với đứa con qua cửa hầm,
đưa con vào trong. Rồi, một tay đưa súng vào trước, anh hụp xuống lặn vào trong. Bên trong của cái
hầm nổi, từ mặt nước đến nắp hầm chỉ cao độ năm, sáu tấc Tối lờ mờ.
Thằng con khóc ré lên.
Anh ôm cái thau lắc nhè nhẹ, dỗ con:
- Nín, nín đi con.
- Nín đi, chút nữa má về.
Bên ngoài, chiếc trực thăng rà sát qua cụm tràm nhà anh, nó sựng lại trên cao, cúi mũi của
nó nhích tới nhích lui như con cá hửi mồi. Rồi nó nghiêng cánh, cho nổ máy lớn, quạt mạnh.
Mái nhà anh, hai mái tranh ghép lại như tấm rèm mong manh, và ẩn dưới cụm tràm thưa,
nhưng lại không tốc lên dưới cánh quạt của trực thăng.
Cây tràm và từng nhánh tràm được vợ chồng anh câu lại với nhau bằng dây điện, nó giữ
chặt lấy nhau, nó ngả nghiêng cùng phía. Gió xoáy của cánh quạt không tạo thành một khoảng trống cho
bọn Mỹ trên trực thăng nhìn thấy. Dù chỉ thấy những chiếc lá bị thổi ngược, chúng vẫn bắn. Nó bắn
một loạt dài. Bắn xuống cụm tràm thưa, nó lại quay bắn xuống chòm điên điển. Đạn nổ trước cửa hầm,
bốc khói và bụi nước bay mịt mù. Trong hầm, ngồi trong cá giữa bóng tối ngột ngạt và tiếng nổ, thằng
bé khóc ré lên. Anh Đô vẫn ôm cái thau, lắc nhè nhẹ như đưa võng, dỗ con.
*
* *
Sáu Xoa trở lại chiếc xuồng. Lác tả tơi trên mặt nước cùng với những mảnh ván nát vụn của
chiếc xuồng câu nổi lều bều. Chẳng biết làm gì, vì tiếc chị lội đi nhặt lại từng mảnh ván, làm như
những mảnh ván vụn ấy chị có thể ghép lại thành chiếc xuồng vậy.
Chợt nghe tiếng trực thăng quần đảo trên cụm nhà chị, chị buông mảnh ván trong tay, vẹt
những cọng còn sót làm vướng mắt, chị nhìn về phía nhà: chồng và đứa con trai đầu.
Lúc nó quần nó tìm, nó bắn, cái chết đến với chị gần như một sợi tóc, có lo sợ nhưng vẫn
bình tĩnh. Bây giờ, nghe và nhìn thấy chiếc trực thăng đang hiện rõ trong đôi mắt hãi hùng của chị. Chị
đưa hai tay nắm chặt lấy tóc mình, như muốn giữ mái đầu mình cho vững nhưng hai nắm tóc trong tay
cứ rung lên.
Rồi không nghĩ gì nữa, chị vẹt lác, bươn mình, trườn về cụm rừng của ngôi nhà. Tưởng như
mình có đủ sức che chở cho con, cho chồng. Sáu Xoa cứ đi tới. Lúc trườn, lúc bơi mệt lả nhưng, Sáu
không nghỉ, chị đưa tay, khi nắm lấy một nắm lác, lúc nắm lấy một dề lục bình, kéo cho thân mình
trườn tới. Lội, bơi, trườn, lúc nương theo cỏ lục bình, lúc lội băng qua một khoảng trống như liều lĩnh.
Nơi nào đất cao, nước cạn, chị vừa lội vừa đi, nơi nào sâu thì chị lội, lội mãi, đến lúc mệtở không ra
hơi, chị bơi ngửa và khi gần đến tầm bay của trực thăng, thì chị lặn...
Trong hầm, Ba Đô vẫn ôm cái thau lắc nhẹ dỗ con trong tiếng súng.
Nghe tiếng súng ngừng nổ, nghe tiếng trực thăng bay xa, Ba Đô vừa đưa tay đẩy cái thau với
thằng con ra miệng hầm, khi đẩy anh hụp xuống nửa mặt.
Trời bên ngoài sáng trong. Vừa ra đến miệng hầm anh đã nghe tiếng kêu hãi hùng của vợ từ
xa lan theo mặt nước vang tới.
- Hải... H... ả... i...
Ba Đô đưa tay vuốt mặt, ngẩng nhìn trời đáp lại:
- Ơ… ơ… ơ… - Anh không gọi tên vợ, mà chỉ gào lên, cho tiếng nói được lan xa.
Sáu Xoa đứng dưới nước, nước ngập đến cổ, chị thở. Nghe tiếng đáp của chồng, chị cũng
gào theo, và dù đã kiệt sức, chị vẫn bươn tới.
Bơi đến chòm điên điển, như vùng dậy với sức lực cuối cùng, và như con cá tung mình lên
khỏi mặt nước, chị ào tới, ôm lấy đứa con ra khỏi cái thau. Chị áp má của đứa con vào môi vào mũi
và mắt mình, kêu lên một tiếng nghẹn ngào:
- Con! - Rồi chị đưa đứa con ra xa, nhìn lại khắp cả mặt mũi tóc tai và thân thể của đứa
con, rồi lại áp sát, chị hôn tóc, hôn mắt, hôn má con.
Ba Đô vẫn đưới nước, nhìn cảnh mừng rỡ, âu yếm của vợ con, và cuộc gặp gỡ của vợ
chồng con cái sau cái chết khiến anh xúc động đến thẫn thờ. Đôi mắt anh
Tác giả : Nguyễn Quang Sáng
Rút trong tập “NGUYỄN QUANG SÁNG - Tác phẩm văn học
được giải thưởng Hồ Chí Minh”
Nhà xuất bản Văn học 2007
Chia sẽ ebook : http://downloadsachmienphi.com/
Tham gia cộng đồng chia sẽ sách :
Fanpage : https://www.facebook.com/downloadsachfree
Cộng đồng Google : http://bit.ly/downloadsach
NGUYỄN QUANG SÁNG - MẤY NÉT TIỂU SỬ VÀ TÁC
PHẨM
Nguyễn Quang Sáng có bút danh Nguyễn Sáng, ông sinh ngày 12-1-1932, nguyên quán tại xã
Mỹ Luông, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang; hiện đang sinh sống và làm việc tại thành phố Hồ Chí
Minh.
Tháng 4 năm 1946Nguyễn Quang Sáng xung phong đi bộ đội làm liên lạc viên cho đơn vị
Liên Chi 2. Năm 1948, ông được đơn vị cho đi học thêm văn hóa ở trường trung học kháng chiến
Nguyễn Văn Tố. Năm 1950, ông về công tác tại phòng chính trị Bộ Tư lệnh phân khu miền Tây Nam
Bộ. Rồi làm cán bộ chuyên nghiên cứu tôn giáo, chủ yếu là Phật giáo và Hòa Hảo.
Năm 1955, Nguyễn Quang Sáng theo đơn vị tập kết ra Bắc, rồi chuyển ngành về làm cán bộ
phòng Văn nghệ Đài phát thanh Tiếng nói Việt Nam. Năm 1957, ông trở thành Hội viên Hội Nhà văn
Việt Nam và cho ra đời truyện ngắn Con chim vàng. Từ năm 1958, ông về công tác ở Hội Nhà văn
Việt Nam, làm biên tập viên Tuần báo Văn nghệ, biên tập nhà xuất bản, cán bộ sáng tác; và cho ra đời
truyện ngắn Người quê hương. Ông nhận Giải thưởng văn học trong cuộc thi viết truyện ngắn báo
Thống nhất cho tác phẩm Ông Năm Hạng, nhận Giải thưởng cuộc thi truyện ngắn tạp chí Văn nghệ
Quân đội cho tác phẩm Tư Quắn vào năm 1959. Năm 1962, ông xuất bản tiểu thuyết Người ở lại; và
năm 1963: tiểu thuyết Đất lửa. Năm 1966, ông vào chiến trường miền Nam, làm cán bộ sáng tác của
Hội Văn nghệ Giải phóng và cho xuất bản truyện vừa Câu chuyện bên trận địa pháo. Năm 1968, ông
cho xuất bản truyện ngắn Chiếc lược ngà; năm 1969 cho xuất bản truyện ngắn Bông cẩm thạch. Năm
1972, Nguyễn Quang Sáng ra Hà Nội và tiếp tục công tác ở Hội Nhà văn. Năm 1975, ông cho xuất bản
truyện vừa Cái áo thằng hình rơm, tiểu thuyết Mùa gió chướng.
Sau ngày giải phóng miền Nam, Nguyễn Quang Sáng trở lại thành phố Hồ Chí Minh, giữ
chức vụ Tổng thư ký Hội Nhà văn thành phố Hổ Chí Minh các khóa 1, 2, 3. Ông cho xuất bản truyện
ngắn Người con đi xa, kịch bản phim Mùa gió chướng vào năm 1977 - được nhận Huy chương bạc
Liên hoan phim toàn quốc năm 1980; kịch bản phim Cánh đồng hoang vào năm 1978 - được nhận
Huy chương vàng Liên hoan phim toàn quốc năm 1980; Huy chương vàng Liên hoan phim Matxcơva
năm 1981; truyện ngắn Bàn thờ tổ của một cô đào, tiểu thuyết Dòng sông thơ ấu vào năm 1985 và
cùng năm, được nhận giải thưởng Hội đồng văn học thiếu nhi Hội Nhà văn cho tiểu thuyết này; kịch
bản phim Mùa nước nổi vào năm 1986; truyện ngắn Tôi thích làm vua, kịch bản phim Dòng sông hát,
Câu nói đầu tiên vào năm 1988; 25 truyện ngắn vào năm 1990; truyện ngắn Con mèo Fujita vào năm
1991 - nhận giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam năm 1993; kịch bản phim Thời thơ ấu, Giữa dòng,
Như một huyền thoại vào năm 1995. Năm 1996, ông cho xuất bản tập I, II và năm 2000 tập III “Tuyển
tập Nguyễn Quang Sáng”.
Năm 2000, ông được tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học Nghệ thuật cho các tác
phẩm: Cánh đồng hoang, Mùa gió chướng, Chiếc lược ngà, Đất lửa.
TÁC PHẨM CHÍNH
- Con chim vàng (NXB. Kim Đồng, 1957);
- Người quê hương (NXB. Văn học, 1960);
- Đất lửa (NXB. Văn học, 1963);
- Câu chuyện bên trận địa pháo (NXB. Văn học, 1966);
- Người con đi xa (NXB. Tác phẩm mới, 1977);
- Cánh đồng hoang (Kịch bản phim, NXB. Văn nghệ TP Hồ Chí Minh, 1981);
- Chiếc lược ngà (NXB. Văn học, 1962);
- Dòng sông thơ ấu (NXB. Kim Đồng, 1985);
- Mùa nước nổi (Truyện phim, Sở VHTT Đồng Tháp, 1985);
- Truyện ngắn chọn lọc (NXB. Hội Nhà văn, 1996);
- Tuyển tập Nguyễn Quang Sáng, tập I, II (NXB. Văn học, 1996);
- Con mèo Fujita (NXB. Hội Nhà văn, 1990),
- Mùa gió chướng (NXB. Văn nghệ Thành phố Hồ Chí Minh, 1999);
- Tuyển tập Nguyễn Quang Sáng, tập III (NXB. Văn học, 2000);
- Nó và tôi (NXB. Kim Đồng, 2002),
- Tạo hóa dưới trần gian (NXB. Trẻ, 2003).
CÁNH ĐỒNG HOANG
Mùa nước.
Ngọn gió đêm dậy lên từ một nơi xa trênnh đồng nước thổi qua vạt rừng tràm thưa. Dưới
bầu trời đầy sao của Tháp Mười, sóng lấp loáng nối theo nhau tràn qua, có đợt như cố vươn lên liếm
cái sàn nhà treo dưới tàn lá cây tràm.
Một tiếng pháo xuất phát từ căn cứ Bình Đức của quân Mỹ, nổ vu vơ. Tiếng nổ vang dài
theo mặt nước. Tiếng pháo nổ to nhưng Sáu Xoa lại giật mình thức giấc vì thói quen và một đợt sóng
đánh tạt qua cây tràm gần đầu nằm của chị. Sáu Xoa trở mình, nhờ ánh sao từ trên bầu trời cao và dưới
mặt nước, chị vừa bới lại tóc vừa nhìn giấc ngủ của chồng và con.
Nhà chị, một cái nhà lạ lùng ít thấy. Ngôi nhà trên mặt nước, cột nhà là những cây tràm
sống. Sàn nhà là cái sạp tre dài độ ba thước và bề ngang hơn hai thước, vừa đủ nằm trong khoảng
trống của một cụm tràm. Cái sạp tre nhỏ bé vừa là giường ngủ, vừa là chỗ bếp núc, chỗ chơi đùa của
đứa con, là tất cả mọi sinh hoạt trong gia đình chị.
Bới tóc xong, chị vén mùng, bật hộp quẹt đốt đèn. Cái đèn trứng vịt, ngọn đèn nhỏ hột đậu,
tỏa một ánh sáng nhỏ, đủ cho chị làm việc. Sáu Xoa, một người đàn bà trẻ, khỏe và đẹp.
Ngoài trời gió vẫn thổi. Gió lao xao qua tàn lá trên mái nhà. Sóng vẫn ràn rạt dưới sàn, và
đâu đó một con cá quẫy một con đớp mồi. Những vòng sóng trên mặt nước bung rộng ra dưới ánh sao.
Cử chỉ nhẹ nhàng, sợ động đến giấc ngủ của chồng, con, Sáu Xoa chuẩn bị những việc cần
thiết cho chuyến đi của chồng. Chị xé nửa bánh thuốc, lấy một cuộn giấy quyến, cái hộp quẹt đá cho
vào cái túi ni lông, lấy sợi dây thun buộc cẩn thận. Xong, chị lựa từng con khô sặc để vào chiếc cà rò
Vừa lúc đó, có tiếng chim kêu. Tiếng chim đêm nghe khác thường. Sáu Xoa quay vào, gọi
khẽ:
- Mình ơi, mình!
Anh Đô chồng chị, đã thức, anh tằng hắng, rồi với một động tác - không ngái ngủ, anh co hai
chân, đưa hai tay ôm vòng qua hai gối, như có lò xo, anh bật dậy. Anh vén mùng - cái mùng bằng vải
dù trái sáng nhuộm màu xanh lam nham - ngồi gần bên vợ. Anh Đô - chồng chị - nông dân Tháp Mười,
một người đàn ông khỏe mạnh, ba mươi tuổi, màu da đậm đà. Có lẽ vì ở giữa cánh đồng nước, không
có người cắt tóc nên mái tóc của anh bù xù, hơi dài, tóc đâm đến vành tai, râu lún phún. Mày rậm, mắt
to và sáng rực. Mũi cũng to và tròn, người ta gọi là mũi lân và môi dày. Dù mặc áo bà ba, nhưng cũng
có thể biết: bắp tay anh cuồn cuộn và lồng ngực anh căng phồng.
Không nói không rằng, anh thò chân xuống sàn, đặt bàn chân lên lái xuồng, đẩy chiếc xuồng
ba lá ra khỏi sàn Anh bước xuống. Với sức mạnh của anh, mũi xuồng hất lên. Anh cầm cây sào, rà
xuống nước, cho mũi xuồng quay ra, nhún mình, chống sào, chiếc xuồng vút đi như con thoi.
Một lát sau, anh quay lại, cho xuồng cặp lại sàn nhà, cầm cái rọ giơ lên, cái rọ đầy cá sặc,
anh mở hom trút cá vào cái khạp da bò để bên bếp. Cái rọ thứ hai cũng đầy cá. Sáu Xoa nhìn từng cử
chỉ của chồng.
- Mình để em! Đi đi, anh em người ta chờ.
Nói xong, chị bưng cà ròn khô cá sặc để xuống xuồng, đưa gói thuốc cho chồng, rồi cầm
chai nước mắm, rót vào chén, đưa tận tay anh
- Mình uống chén nước mắm, cho đỡ lạnh.
Anh Đô đưa tay bưng chén, đưa lên miệng uống ừng ực, Sáu Xoa nhìn chồng với đôi mắt âu
yếm. Uống xong, anh ngồi xuống lái, cầm chén khoát khoát nước để rửa chén, múc nước súc miệng.
Xong, anh đặt chén lên sàn nhà, cầm cây sào, chống sào xuống nước, nói mà không nhìn vợ:
- Mới có đầu tháng chín mà nước đã lên đến một sải rồi!
- Hai đêm nữa thì nước liếm tới lưng rồi. - Sáu Xoa nói.
- Mai phải lên nhà! - Nói vậy rồi anh rùn mình, chống sào. Chiếc xuồng băng đi.
Anh vừa chống xuồng và nhìn bầu trời mông mênh lấm tấm sao. Tiếng pháo từ căn cứ Bình
Đức vẫn nổ vu vơ trên cánh đồng. Tiếng pháo nổ trong đêm vắng và trên đồng nước, tiếng pháo rền và
vang xa.
Chiếc xuồng của anh ra khỏi vạt tràm. Cái vạt tràm có ngôi nhà của anh là vạt tràm nhỏ, lưa
thưa trên cánh đồng. Còn cái vạt tràm dày đặc là một cụm rừng già ở trước mặt anh, những cây tràm
cao, lá dày đặc. Ở xa nhìn như một bóng đen khổng lồ nổi trên mặt nước.
Nếu ngôi nhà của anh nằm giữa cụm rừng tràm dày đặc ấy, sẽ kín đáo hơn. Nhưng vốn có
nhiều kinh nghiệm với chiến trường, chính cái nơi kín đáo ấy là mục tiêu của trực thăng, của phản lực,
của pháo… Vợ chồng anh đã chọn một cái thế bất ngờ để dựng nhà
Chiếc xuồng anh lao đi trên mặt nước dưới đêm sao, mũi xuồng rẽ sóng nghe ràn rạt đều
đều.
Nghe tiếng chim, anh làm tiếng chim đáp lại.
Anh cho xuồng cặp lại mí rừng, đi về hướng tiếng chim. Anh cho xuồng băng lại cây tràm
đứng lẻ loi trên mặt nước. Cây tràm lẻ loi ấy được gọi là trạm, là nơi giao khách của đường dây giao
liên của khu về chiến trường Mỹ Tho. Dưới bóng cây tràm ấy đã có một anh giao liên với chiếc xuồng
đang chờ. Chiếc xuồng anh cặp sát lại chiếc xuồng kia. Anh và người giao liên kia quen biết nhau đến
nỗi không cần phải chào hỏi, và cũng không có thói quen bắt tay khi gặp nhau. Anh hỏi:
- Khách bao nhiêu?
- Mười lăm! - Anh giao liên kia đáp.
- Ở đâu về?
- Khu có, Rờ có!
Anh giao liên vừa nói vừa trao quyển sổ học sinh cho anh. Anh lật sổ dưới ánh đèn pin của
anh giao liên, và anh cầm lấy cây bút của anh giao liên, đặt vào giấy, ngoáy một chữ ký. Xong, hai
người không nói gì thêm, anh giao liên kia quày mũi xuồng, chống xuồng băng qua mặt nước mênh
mông.
Còn anh, anh quày vào mí rừng, nói:
- Đi! Các đồng chí!
Từ trong bóng tố của mí rừng, tiếng người lao xao, và tiếng mái dầm động nước. Năm chiếc
xuồng, mỗi xuồng ba người nối nhau, đâm mũi ra, hướng theo chiếc xuồng anh.
Trên mặt nước mênh mông của cánh đồng không có những con đường mòn, người đi phải đi
theo hướng. Anh giao liên Đô lấy những vạt rừng, những tàn cây xa còn nhô trên mặt nước làm mốc,
theo thói quen và thuộc lòng như quán tính, anh hướng dẫn đoàn xuồng cán bộ, đi giữa trời nước lu
mù. Hễ gặp một dề lục bình thì anh dùng cây sào vít lên để ngụy trang, đi một đoạn xa, xuồng anh
thành một chiếc xuồng chở lục bình. Và những chiếc sau, cũng như anh, xuồng được ngụy trang bằng
lục bình từ mũi đến lái.
Đi trên cánh đồng mà như đi đêm trên mặt biển. Đi trong tiếng gió lạnh của đồng nước, và
tiếng pháo nổ rền rền.
Chợt”có tiếng trực thăng “lạch cạch” từ xa. Anh Đô rà cây sào, quay lại sau, ra lệnh:
- Tản ra!
Lập tức, những chiếc phía sau, mái dầm rà lại, chiếc hướng về phải, chiếc hướng bên trái,
mỗi nơi một chiếc.
Anh Đô cầm cây sào, đưa một chân quèo cây sào, ngồi nghỉ, cầm cây CKC, lấy vạt áo lau
súng.
Tiếng trực thăng nghe mỗi lúc một gần, đã thấy cây đèn lái của nó, chớp tắt, chớp tắt. Và
không xa lắm, từ trên chiếc trực thăng, đèn phực sáng, một thứ ánh sáng trắng xanh ma quái chiếu rọi
xuống một vùng. Anh Đô đứng dậy đưa tay làm loa nói l
- Nó tới, lặn không cho nổi sóng.
- Lục bình đội lên đầu!
- Xuồng phải giữ chặt!
Nói xong, anh sửa soạn lại xuồng. Anh rải lục bình từ mũi đến lái, và cây súng CKC của
anh để nằm dọc theo khoang xuồng dưới lục bình.
Chiếc trực thăng đi soi đêm, chẳng biết thấy gì, nó quần đảo và bắn. Đạn từ trong súng trên
chiếc trực thăng nối nhau như một đường lửa.
Ở cụm rừng thưa, sau khi anh Đô chống xuồng đi, Sáu Xoa tắt đèn, vào mùng, nằm trên cái
chỗ của chồng. Chỗ chị nằm, sát đầu sạp tre, nếu vô ý lăn qua, chị sẽ rơi xuống nước. Nhưng chị đã
quen. Chị kéo đứa con sát vào lòng. Thằng con của chị, một tuổi, ngủ ngon lành trong hơi ấm của mẹ.
Chợt nghe tiếng súng của trực thăng, chị choàng dậy, vén mùng, ngồi bên sạp, thòng chân
xuống gần mặt nước nhìn về hướng súng nổ. Trong ánh sáng lờ mờ của ánh sao dưới bóng của cây
tràm, chỉ có thể thấy rõ đôi mắt của chị, đôi mắt lo âu nhưng không bối rối.
Trạm giao liên của vợ chồng chị là trạm nối giữa đường dây của Khu và tỉnh Mỹ Tho. Ba
ngày một chuyến đi. Suốt bao nhiêu năm nay, đêm nào và chuyến đi nào của chồng, chị cũng nghe tiếng
súng như vậy, đã thành quen, lo âu mà không bối rối.
Tiếng súng dứt, tiếng trực thăng nghe xa, chị giở mùng, dù không thấy, nhưng nghe qua tiếng
súng, chị đoán biết. Chị mừng nhưng chẳng biết chia sẻ với ai, chị nói với đứa con đang ngủ:
- Ba con vượt ra khỏi tầm súng của nó rồi.
Chị nằm xuống nghiêng mình, hôn lên vầng trán nhỏ bé của con.
*
* *
Chiếc trực thăng, sau khi quần bắn một vùng nước còn cỏ dại mà chúng nghi ngờ, nó lại bay
đi.
Anh Ba Đô nhìn cái đèn lái chớp tắt của trực thăng, anh vừa cởi áo, cởi cả quần và ra lệnh:
- Chuẩn bị lặn!
Chiếc trực thăng bay tới, và tất cả các cán bộ trên xuồng đều tuột xuống nước.
Chiếc trực thăng phực đèn. Từ trên nhìn xuống, lính Mỹ nhìn thấy một vùng nước mênh
mông với những dề lục bình. Nó đảo qua một vòng, thấy không có điều gì đáng nghi ngờ, nó tắt đèn
bay đi.
Từ dưới mặt nước, Ba Đô và anh em cán bộ lần lượt trồi lên, thở khì khì.
Đoàn xuồng lại đi trên mặt nước mênh mông..
Ba Đô đưa đoàn khách đến trạm, một ngôi nhà trong vườn cây ăn trái của tỉnh Mỹ Tho.
Trưởng trạm là cô giao liên trẻ, tuổi độ hai mươi, khỏe, ngăm đen. Sau khi giao khách cho trạm, Ba
Đô trao cái cà ròn khô cho cô giao liên:
- Mua giùm tôi sữa, thuốc nóng lạnh với một cái khăn cho vợ tôi.
- Thương vợ thương con dữ há.
- Vợ con không thương thì thương ai! - Anh cười hề hề. . .
*
* *
Sao lặn. Trời chưa đâm mây ngang, nhưng đã mờ sáng. Sáu Xoa dậy sớm, cơm nước đã nấu
xong. Thằng con vẫn còn ngủ. Chị thắp đèn. Trời vào lúc mờ sáng này, máy bay giặc không thể phát
hiện được ngọn đèn.
Mặt nước dưới sàn nhà xao động. Sáu Xoa ngẩng nhìn ra xa. Mũi xuồng của anh Ba Đô ló
ra, đâm thẳng lại nhà. Chị nhìn chồng, cười và nói với đứa con đang ngủ:
- Ba về!
Ba Đô cho xuồng cặp sát lại sàn nhà, anh ném lên sàn xấp vải. Sáu Xoa cuốn mùng xong,
chị cầm xấp vải hoa đỏ ướm thử lên mình thằng con trai bầu bĩnh, mặt chị rạng rỡ niềm vui. Rồi chị
cầm xấp vải đem trải dài theo hai chân, chị nhìn chồng, cười sung sướng và bẽn lẽn.
- Ăn cơm đi mình!
Ba Đô leo lên sạp.
- Tụi nó khỏe? - Chị hỏi.
- Khỏe. - Anh đáp lại một tiếng gọn.
Cuối cùng, chị cầm cái túi ni lông xanh to như bao bố, đưa lên và xem xét thận trọng đường
ghép trong túi. Đôi mắt của chị thoáng nỗi lo âu!
Trong lúc chị xếp lại mùng mền để gọn vào cái bòng bột thì Ba Đô dọn chén. Anh giở nắp
nồi cơm, khói lên nghi ngút ngon lành.
Cơm nước xong, Sáu Xoa xuống xuồng. Cũng chiếc xuồng ba lá, nhưng nhỏ hơn chiếc xuồng
đi giao liên của anh Đô, chiếc xuồng câu của gia đình chị. Chị mặc chiếc quần bà ba đen ni lông láng
đến nỗi trông như cái quần ướt, chiếc áo hoa xanh và choàng qua cổ bằng tấm vải dù bông. Đứng trên
lái, cầm cây sào, chị dặn chồng:
- Sữa em pha rồi!
Chiếc xuồng của chị lao qua khỏi cụm điên điển. Trời đã rõ mặt người. Bấy giờ ta mới thấy
rõ mặt của Sáu Xoa. Một cô gái cao cao, dong dải khỏe mạnh. Chiếc mũi dọc dừa với đôi môi nhỏ
thật xinh, đẹp nhưng lại toát lên vẻ gan góc bướng bỉnh với cái trán dô. Choàng qua người tấm vải dù
bông, cùng với chiếc xuồng lướt đi trên mặt nước đang bốc hơi lờ mờ của buổi sáng sớm, với vạt vải
dù lất phất bay, xa trông như một bức tranh.
Cũng như chồng đi trong đêm, chị vớt lục bình lên xuồng để ngụy trang, nhưng không chỉ có
ngụy trang che mắt địch, trong cách ngụy trang xuồng của Sáu Xoa lại mang thêm một vẻ đẹp dịu dàng
của một cô gái. Khi xuồng lướt qua một vùng bông súng, lá bông súng tròn với cánh hoa trắng xinh
xắn, Sáu Xoa dừng xuồng, ngắt những chiếc lá có hoa đẹp, để chen trong dề lục bình. Xuồng chị như
một chiếc xuồng chở hoa đi hội.
Sáu Xoa rà cây sào cho xuồng cặp lại bên rìa rừng lác. Lác mọc cao hơn mặt nước, xanh
ngắt. Xuồng đi vào một luồng nước giữa rừng lác. Dưới cái luồng nước này, mùa khô, nó là con đường
mòn. Sáu Xoa ngồi trước mũi, phăng dây câu. Lưỡi câu đầu tiên dính một con cá lóc bằng cườm tay,
giãy đành đạch, Sáu Xoa gỡ cá, rồi lại móc vào lưỡi một con cá sặc nhỏ. Xong, Sáu Xoa lại phăng
dây câu...
Mặt trời lên. Mặt trời mọc trên cánh đồng mà đẹp như cảnh mặt trời mọc trên mặt biển. Mặt
trời tròn như một quả bóng, đỏ như tiết tươi như từ dưới đáy nước nhô lên, lên nhanh, lên khỏi đường
mây trắng ngang chân trời.
Xa xa trên bầu trời đã có tiếng ào ào của phản lực Mỹ, tiếng bom bi nổ rền như tiếng sấm
dậy, và nơi đó khói trắng đùn lên như một đám mây.
Và tiếng trực thăng nghe mỗi lúc mỗi gần. Chiếc trực thăng, từ một nơi xa, cất cánh từ căn
cứ Bình Đức của quân Mỹ, Sáu Xoa dừng tay, ngẩng nhìn. Một chấm đen nhỏ, đầu chúc xuống như một
con cá rô hiện ra giữa nền trời quang đãng của buổi sáng.
Sáu Xoa choàng tấm vải dù từ đầu đng, nhìn nó. Biết cụm tràm thưa của nhà mình nằm
ngoài tầm tay của trực thăng, chị lại ngồi xuống, tiếp tục phăng dây câu.
Chiếc trực thăng quần đảo, bắn, một mình một vùng trời nước, nó tung hoành như thao tập.
Đang là đà bay, nó vọt thẳng lên, rồi bất thần cắm đầu chúi xuống, tưởng như cắm đầu
xuống đáy nước, nó rà sát mặt nước, sóng cuồn cuộn nổi theo đường bay.
Bất thần nó rà xuống rừng lác. Tấm vải dù bông của Sáu Xoa bay tung lên, tóc của Sáu Xoa
cũng xõa ra, dựng lên, bay theo cơn xoáy của ngọn gió.
Nhanh nhẹn chị tuột xuống nước, đưa tay vạch lác, vùi người vào trong sâu. Chiếc trực
thăng quay lại, rà sát lướt qua đầu chị. Tiếng trực thăng nổ nghe nhức óc, khiến chị phải bụm hai tai.
Trầm mình dưới nước, chỉ nhô lên cổ với đầu vùi qua đám lác, lúc ẩn lúc hiện khi chiếc trực thăng
quần bắn.
Lo lắng nhưng bình tĩnh. Chị ngước nhìn theo trực thăng, khi nó vừa rà qua khỏi đầu, chị lại
chồm dậy, bươn người trong lác, cố trườn qua khỏi vòng bay.
Chiếc trực thăng đầu con cá rô, đang rà sát ngọn lác bỗng nó sựng lại gần bên xuồng chị,
cái đầu nó chúi xuống rồi lui ra (giống như con cá rô đang hửi mồi), gió trước cái mũi của nó xoáy
dậy. Một cụm lác bị quần nát, và từng cánh lục bình, từng cái lá bông súng bị gió xoáy lên, bay tả tơi.
Và chiếc xuồng câu của chị hiện nguyên hình với những con cá trong khoang. Một trái lựu đạn từ trên
trực thăng ném xuống, nổ tung. Từng mảnh ván văng đi. Chiếc trực thăng thu hẹp vòng bay rồi sựng lại
trên cao, cây súng đại liênửa nổ từng tràng chát chúa.
Chiếc xuồng bị nát ra từng mảnh, chìm mất. Phát hiện được mục tiêu, biết có người còn lẩn
tránh đâu đây, chiếc trực thăng lồng lên, khi cất cao, khi rà thấp, lúc dừng lại, tập trung vào một mục
tiêu, quạt cánh, lúc bị dạt ra để lộ một vùng nước - và nó bắn - bắn xối xả, bắn điên cuồng xuống đám
lác.
Sáu Xoa nằm trong tầm đạn. Chị trồi lên ngụp xuống. Sức bị mòn mỏi, chị ngụp lặn mỗi lúc
mỗi nhanh. Chị không đủ hơi để nín lâu dưới đáy nước. Trồi lên, thở vội lấy một hơi, lại hụp xuống.
Có lúc đạn rải qua vùng nước quanh người chị. Khói bốc trên mặt nước, bụi nước bay lù mù.
Có những con cá không chịu nổi sức ép của đạn hỏa tiễn, tức thở nổi lều bều.
Nó bắn hàng giờ, bắn tả tơi cả rừng lác tưởng không còn gì chịu nổi, nó mới bay đi.
Nó quần lại rừng tràm, lại bắn, thấy chưa đủ, nó rà sát xuống cụm trăm thưa của nhà chị.
Khi chiếc trực thăng rà sát qua mái nhà, Ba Đô nhanh nhẹn gom đồ đạc cần thiết để vào
khoang xuồng dưới sàn nhà. Ba Đô cởi áo, mặc quần đùi, vai đeo cây CKC, anh để đứa con lên cổ,
một tay vịn con, một tay đẩy cái thau nhôm lớn, lội đi. Anh lội lại cái hầm nổi của anh cách ngôi nhà
không xa, cái hầm được che kín trong chòm điên điển. Chòm điên điển lưa thưa, lúc nào cũng cao hơn
mặt nước, bông điên điển nở từng chùm vàng đẹp như hoa mai.
Cái hầm nổi của anh cao như một cái gò đất. Cửa hầm được che kín nhờ cây và lá điên điển
uốn oằn xuống mặt nước. Cái cửa hầm cũng đã bị ngập nước, chỉ hé ra một khoảng nhỏ, đen ngòm.
Muốn vào hầm phải lặn vào trong. Thằng con một tuổi của anh không thể lặn được. Nhưng anh đã có
cách, anh để đứa con vào cái thau nhôm, vẹt điên điển, từ từ đẩy cái thau với đứa con qua cửa hầm,
đưa con vào trong. Rồi, một tay đưa súng vào trước, anh hụp xuống lặn vào trong. Bên trong của cái
hầm nổi, từ mặt nước đến nắp hầm chỉ cao độ năm, sáu tấc Tối lờ mờ.
Thằng con khóc ré lên.
Anh ôm cái thau lắc nhè nhẹ, dỗ con:
- Nín, nín đi con.
- Nín đi, chút nữa má về.
Bên ngoài, chiếc trực thăng rà sát qua cụm tràm nhà anh, nó sựng lại trên cao, cúi mũi của
nó nhích tới nhích lui như con cá hửi mồi. Rồi nó nghiêng cánh, cho nổ máy lớn, quạt mạnh.
Mái nhà anh, hai mái tranh ghép lại như tấm rèm mong manh, và ẩn dưới cụm tràm thưa,
nhưng lại không tốc lên dưới cánh quạt của trực thăng.
Cây tràm và từng nhánh tràm được vợ chồng anh câu lại với nhau bằng dây điện, nó giữ
chặt lấy nhau, nó ngả nghiêng cùng phía. Gió xoáy của cánh quạt không tạo thành một khoảng trống cho
bọn Mỹ trên trực thăng nhìn thấy. Dù chỉ thấy những chiếc lá bị thổi ngược, chúng vẫn bắn. Nó bắn
một loạt dài. Bắn xuống cụm tràm thưa, nó lại quay bắn xuống chòm điên điển. Đạn nổ trước cửa hầm,
bốc khói và bụi nước bay mịt mù. Trong hầm, ngồi trong cá giữa bóng tối ngột ngạt và tiếng nổ, thằng
bé khóc ré lên. Anh Đô vẫn ôm cái thau, lắc nhè nhẹ như đưa võng, dỗ con.
*
* *
Sáu Xoa trở lại chiếc xuồng. Lác tả tơi trên mặt nước cùng với những mảnh ván nát vụn của
chiếc xuồng câu nổi lều bều. Chẳng biết làm gì, vì tiếc chị lội đi nhặt lại từng mảnh ván, làm như
những mảnh ván vụn ấy chị có thể ghép lại thành chiếc xuồng vậy.
Chợt nghe tiếng trực thăng quần đảo trên cụm nhà chị, chị buông mảnh ván trong tay, vẹt
những cọng còn sót làm vướng mắt, chị nhìn về phía nhà: chồng và đứa con trai đầu.
Lúc nó quần nó tìm, nó bắn, cái chết đến với chị gần như một sợi tóc, có lo sợ nhưng vẫn
bình tĩnh. Bây giờ, nghe và nhìn thấy chiếc trực thăng đang hiện rõ trong đôi mắt hãi hùng của chị. Chị
đưa hai tay nắm chặt lấy tóc mình, như muốn giữ mái đầu mình cho vững nhưng hai nắm tóc trong tay
cứ rung lên.
Rồi không nghĩ gì nữa, chị vẹt lác, bươn mình, trườn về cụm rừng của ngôi nhà. Tưởng như
mình có đủ sức che chở cho con, cho chồng. Sáu Xoa cứ đi tới. Lúc trườn, lúc bơi mệt lả nhưng, Sáu
không nghỉ, chị đưa tay, khi nắm lấy một nắm lác, lúc nắm lấy một dề lục bình, kéo cho thân mình
trườn tới. Lội, bơi, trườn, lúc nương theo cỏ lục bình, lúc lội băng qua một khoảng trống như liều lĩnh.
Nơi nào đất cao, nước cạn, chị vừa lội vừa đi, nơi nào sâu thì chị lội, lội mãi, đến lúc mệtở không ra
hơi, chị bơi ngửa và khi gần đến tầm bay của trực thăng, thì chị lặn...
Trong hầm, Ba Đô vẫn ôm cái thau lắc nhẹ dỗ con trong tiếng súng.
Nghe tiếng súng ngừng nổ, nghe tiếng trực thăng bay xa, Ba Đô vừa đưa tay đẩy cái thau với
thằng con ra miệng hầm, khi đẩy anh hụp xuống nửa mặt.
Trời bên ngoài sáng trong. Vừa ra đến miệng hầm anh đã nghe tiếng kêu hãi hùng của vợ từ
xa lan theo mặt nước vang tới.
- Hải... H... ả... i...
Ba Đô đưa tay vuốt mặt, ngẩng nhìn trời đáp lại:
- Ơ… ơ… ơ… - Anh không gọi tên vợ, mà chỉ gào lên, cho tiếng nói được lan xa.
Sáu Xoa đứng dưới nước, nước ngập đến cổ, chị thở. Nghe tiếng đáp của chồng, chị cũng
gào theo, và dù đã kiệt sức, chị vẫn bươn tới.
Bơi đến chòm điên điển, như vùng dậy với sức lực cuối cùng, và như con cá tung mình lên
khỏi mặt nước, chị ào tới, ôm lấy đứa con ra khỏi cái thau. Chị áp má của đứa con vào môi vào mũi
và mắt mình, kêu lên một tiếng nghẹn ngào:
- Con! - Rồi chị đưa đứa con ra xa, nhìn lại khắp cả mặt mũi tóc tai và thân thể của đứa
con, rồi lại áp sát, chị hôn tóc, hôn mắt, hôn má con.
Ba Đô vẫn đưới nước, nhìn cảnh mừng rỡ, âu yếm của vợ con, và cuộc gặp gỡ của vợ
chồng con cái sau cái chết khiến anh xúc động đến thẫn thờ. Đôi mắt anh
 





