https://youtu.be/Sr0rguw-JdU?si=j1Y7MlEGzimltz86
Chào mừng quý vị đến với website của ...
Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Cạm Bẫy Người

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Minh Lê
Ngày gửi: 19h:26' 23-10-2025
Dung lượng: 655.2 KB
Số lượt tải: 0
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Minh Lê
Ngày gửi: 19h:26' 23-10-2025
Dung lượng: 655.2 KB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
Cạm bẫy người
Vũ Trọng Phụng
Nhà xuất bản Văn học 2006
Chuyển text và tạo ebook: Caruri
Chia sẽ ebook : http://downloadsachmienphi.com/
Tham gia cộng đồng chia sẽ sách :
Fanpage : https://www.facebook.com/downloadsachfree
Cộng đồng Google : http://bit.ly/downloadsach
Mục lục
I Ông thân tôi là “mòng”
II Ông quân sư của bạc bịp
III Đố anh nào bịt mắt được tôi
IV Ba nhân vật
V Bốn đồng ngửa sấp
VI Ruột quân xúc xắc
VII Xưởng chế tạo khí giới
VIII Những thủ đoạn ngoài chương trình b…
IX Một cuộc vận động tự trị
X Canh tài bàn… tay tư
XI Tấm lòng đi bịp, từ nay xin chừa
XII Nạn kinh tế, sở liêm phóng với ông ấm B…
XIII Cái “lưới nhện”
XIV Kẻ ở người về
I
Ông thân tôi là “mòng”
Nụ cười vẫn thường lộ trên cặp môi đỏ tựa thoa son, anh Vân bỗng ủ dột, muốn như có vẻ chán đời.
Do lẽ gì, cái thái độ trái ngược như vậy? Vì ông thân anh, một cụ phán thượng hạng đã về hưu, hưu
bổng hàng tháng rất to, với bà mẫu anh, một người mẹ đảm, đã một tay tậu nổi mấy toà nhà lộng lẫy mà
không để cho anh được tự do tiêu, phá chăng? Vì ý trung nhân của anh, một cô gái tân thời óc chứa đầy
những tình cảm đã phụ anh chăng? Hay vì mảnh bằng tốt nghiệp của trường cao đẳng thương mại chưa
cho phép anh được chiếm một ghế ngồi trong một công sở? Lạ! Con một nhà giàu, lại sẽ là chồng một
mĩ nhân, địa vị như thế, tại sao anh Vân lại chán đời? Cái buồn của anh chàng này chắc có chứa sự bí
mật gì đây…
*
* *
Chiều hôm ấy, anh Vân ghé vào tai tôi:
- Tôi đã đỡ được nỗi chán đời vì đã tìm ra được cách mở két của ông cụ. Tôi mới có được một
mẻng rất đáng yêu cả tinh thần lẫn xác thịt nhưng phải cái hơi đáng giận là có cái đức lớn trong sự tiêu
tiền.
Tôi rất lấy làm phàn nàn về điều đó, nhưng biết làm thế nào? Phụ nữ bây giờ hầu hết thế cả! Tình
thế này ép tôi phải tính… Đáng lẽ tôi cũng không dùng đến kế này, vì nó bất lịch sự quá, nhưng anh
tính: ông cụ đưa tiền cho mình tiêu thì tỏ ý xót xa mà đến khi ngồi vào đám bạc, hết trăm này đến chục
khác chẳng lấy làm tiếc, anh bảo thế thì còn gì ức cho mình hơn?
Nói tới đó, anh ngắt câu chuyện, đưa ra cho tôi một lá thư còn ngỏ. Ngoài bì đề:
Monsieur Ấm B…
N… Ruelle des poissons, Hanoi
[1]
Còn trong thư:
[2]
Bắc Ninh, le 26 février 1933
Thưa ngài,
Cùng nhau gắn bó đã bao nhiêu lần, tôi vẫn để ý mãi, nay thật đến lúc phải phiền ngài rồi đây.
Mong ngài xếp cho một người có vẻ ông tham, ông phán, đúng chiều thứ bảy sang bên tôi có hàng.
Chính ông thân tôi là mòng, chắc chắn lắm! Còn nhiều két khác nữa, nhưng tôi chưa dám cam
đoan vội, vì chưa xếp xong. Chỉ cần người chơi tổ tôm, tài bàn giỏi thôi, không dùng đến bát, đĩa
gì cả. Đáng lẽ tôi phải “thân hành” sang cầu cứu song bận thu xếp, phải dùng chữ thay người, có
điều đường đột, ngài cũng xá đi cho. Và xin báo trước bằng thơ, nói rõ hình dạng người mà ngài
phái sang, để chúng tôi ra ga đón cho tiện. Xin nhớ: chúng tôi ở phố Tiền An, số nhà…
Kính thư
Vân
Xem xong, bốn mắt gặp nhau, tôi cố nhịn cười:
- Anh gọi bịp về bắt ông cụ đấy à? Gớm! Có hiếu nhỉ!
Anh Vân chỉ mỉm cười một cách khoái chí rồi lấy hồ dán kín phong thư.
*
* *
Hai hôm sau. Trên con đường chạy ra ga Bắc Ninh với hai dãy cây um tùm đứng giàn hai bên, một
chiếc ô tô hàng đứng chờ, mấy cái xe cao su lượn nghênh ngang, lùng khách. Anh Vân rảo bước đi bên
tôi, cầm một lá thư lẩm nhẩm: “Đúng 6 giờ chiều, ở ga xuống, người nào mặc ta, cầm máy ảnh, mặc cả
xe đến phố Tiền An là đích đấy…”
Đúng 6 giờ. Một hồi còi… Mười toa tàu lù lù tiến đến sân ga, nhả ra độ mười hành khách. Có
người gọi vợ, gọi con, mặc cả xe om sòm, có người bị phu xe túm bâu lấy mà chỉ biết kêu rối rít:
“Không, không!…” Bỗng có một giọng dõng dạc, to hơn hết, nổi lên trong đám khách ồn ào:
- Chúng mày, thằng nào biết, mau kéo tao đến phố Tiền An, nhà cụ…
- Đây rồi…!
[3]
- Phải, đích người này rồi. Áo gấm trong, áo sa tanh ngoài, giày ban , tay có cầm máy ảnh. Răng
vàng hé lộ mỗi khi cười lệch miệng, kính đồi mồi nằm trên sống mũi dọc dừa nghiêm trang. Mặt láu
lỉnh ra phết ăn người.
Ba chúng tôi bắt tay nhau. Anh Vân pha trò mà giới thiệu:
- Đây là chú nó… còn ngài này… “ân nhân” của tôi!
Ông ân nhân của tôi ấy là ông đến giết bố nó để cứu con, mấy phút sau, được anh Vân rước về nhà
[4]
kêu rầm lên: “Thưa thầy, thưa đẻ, có bác tham Ngọc vốn là bạn cũ sang chơi với con” thì được cả
nhà đón chào mừng rỡ. Nhất là lại được ông cụ già đạo mạo tiếp đãi ân cần, tự đem thân ra đóng cái
vai con chim mòng đậu vừa đúng tầm súng cho kẻ đi săn.
Cuộc gặp gỡ của chủ với khách bắt đầu gắn bó bằng một bữa cơm bề bộn những thịnh soạn. Trong
bữa tiệc kéo luôn hai tiếng đồng hồ, người ta nói đến những chuyện giời nắng, giời mưa, nạn khủng
[5]
hoảng , cuộc chiến tranh Trung – Nhật, việc nhà nước thi hành chính sách tiết kiệm rút lương, thải
bớt người làm. Ông “tham Ngọc” của anh Vân ăn nói ôn tồn, đóng cái vai kịch của mình một cách thạo
[6]
lắm. Ông hết bàn luận về đạo nghị định ngày 6 Octobre 1931 lại làm ra mặt học rộng, đả động đến
[7]
cả bộ “mặt trái” của hội Quốc Liên . Có khi ông tự giới thiệu: chỉ ham đọc sách và gặp dịp nhàn thì
chỉ du ngoạn những phong cảnh đẹp chớ ít khi để ý đến sự chơi bời.
Thấy con người giỏi mà nết na như vậy, cụ phán khâm phục ông ra mặt, ngợi khen mãi ông là người
hữu ích, chẳng lêu lổng như em Vân. Rồi cụ cười khà khà:
- Dù bác không chơi bời gì thì tổ tôm, tài bàn cũng phải biết chứ?
Nụ cười vẫn giữ trên môi, ông “tham Ngọc” thong thả đáp lại:
- Bẩm vâng! Ngoài sự đọc sách với chơi ảnh ra, con cũng chẳng còn cách gì giải trí nữa. Đi hát ả
đào hay rượu chè, hút xách thì tai hoạ, mà giai gái thì bẩm… chúng con đã quá tuổi rồi! Vả lại tổ tôm,
tài bàn là cái chơi thanh nhã, khác nào như cuộc đấu trí. Con cho đó là một cách giải trí lịch sự mà
người thượng lưu cần phải biết.
[8]
Thiết tưởng một phạm nhân can tội giết người mà được trạng sư
cãi cho trắng án cũng vị tất đã
có lòng kính phục, ngưỡng mộ, nhớ ơn ông thầy cãi của mình như cụ phán của tôi kính phục, ngưỡng
mộ, nhớ ơn ông “trạng sư của tài bàn, tổ tôm” lúc ấy. Đánh trúng vào chỗ yếu của ông cụ rồi, tay bịp
già đã thèm nhận những lời ân cần mời mọc vào cuộc tài bàn ngay cho đâu!
- Bẩm con định sang hầu cụ với thăm anh Vân con rồi nhân tiện đi chụp ít ảnh vì cảnh những đồi
Lim đẹp đã có tiếng… chứ không nghĩ đến sự sang đây lại được cụ ép đánh tài bàn!
Cụ phán cố phân trần cho ra lẽ:
- Nhưng còn cả ngày mai thì bác ngại gì? Tôi chỉ sợ bác chả đem nổi vài vạn tấm kính sáng mà
chụp cho xuể thôi.
Thế là thành cuộc. Bốn vai trò: ông “tham Ngọc” người đi săn, anh Vân người hướng đạo, ông
thân sinh ra anh, chim mòng, với tôi, một người tò mò, đi xem. Tôi rất lấy làm lạ vì cứ thấy vai con
chim mòng thắng trận, ù tràn đi mà nhà đi săn kia đã phí gần hai mươi viên đạn. Chính anh Vân cũng
hơi tái mặt, chỉ sợ người mình lôi về chưa hẳn là thiện xạ, có bao nhiêu lại đến chui hết cả vào két của
ông cụ thì…
Làm ra bộ thua cay, nóng tiết, đang đánh một, hai, ba đồng, ông “tham Ngọc” rủ đánh gấp đôi.
- Thưa cụ, đánh nhỏ con lại hay thua, có đánh to mới cao được.
Gặp hồi đỏ, ông cụ hăng hái như đang say rượu nhận lời liền! Thế là từ lúc đánh hai, bốn, sáu đồng,
[9]
ông cụ năm thì mười hoạ mới được một ván ù suông. Ù tài bàn, sửu bàn chỉ riêng về ông “tham
Ngọc”.
Thấy số giấy bạc trước mặt, trong túi mình cứ lần lượt chui ra rồi bay đi với gió, moi ví mãi nóng
[10]
tiết, ông già thỉnh thoảng lại làm ván ké một “rồng xanh”
. Nhưng bao nhiêu cũng đều “giá vũ đằng
vân” đi đâu mất cả!
Cái ví lép kẹp của ông già giục cả làng tan chầu, đứng lên:
- Thôi, mời bác lên gác đi nghỉ với em. Bác đỏ và đánh cao quá, thật số bác hôm nay phát tài. Tôi
thua dễ đến hơn sáu chục!…
Ông cụ “tuy không ăn ớt mà cay” nhưng vẫn vui vẻ như thường, vẫn thản nhiên, lộ cái vẻ yêu con
người đã lịch thiệp lại có biệt tài, đánh tài bàn cao.
Còn tôi, tuy tò mò ngồi để ý mất cả buổi tối, cũng không sao khám phá nổi những ngón bịp! Vậy
“mặt mũi” những ngón bịp thế nào?
*
* *
Trên gác riêng của anh Vân, giữa lúc chia tiền.
- Vốn tôi đem sang: mười lăm đồng, vốn bác: năm đồng, mà đây tám mươi ba tất cả, thế là cụ bị
mất đứt 63 đồng. Đáng lẽ ta chia ba, ông ấm B… ở Hà Nội với tôi hai, còn bác một. Nghĩa là cả ba
đạo binh cùng hưởng: đoàn hướng đạo, đoàn quân thắng trận với bộ tham mưu. Nhưng mòng là cụ nhà
bác thì bác cứ cầm bốn mươi của. Anh em chúng tôi chỉ dùng 23 hòn đạn là đủ rồi.
Trước cái thái độ nhã nhặn và biết điều này, anh Vân đáp bằng cái gật đầu, chìa tay ra nhận và nói:
[11]
- Để lần sau bác sang, tôi gọi cho mấy via
nữa đến, rồi ta lại sẽ có dịp được chia hương hoả
với nhau. Nhưng tôi muốn bác cho xem qua các ngón để sau này mà tránh…
Nhà đi săn cười. Một cuộc phấn đấu chốc lát trong óc anh chàng: bí mật nhà nghề, có nên? Hay
không?
Sau một lúc lưỡng lự, “ông tham” có ý lấy chúng tôi làm chỗ đồng chí, cũng chẳng phải ngại gì.
Chúng tôi ngồi nghe như hai cậu học trò trước một giáo sư dạy khoa quỷ thuật.
- Có ba lối tài bàn. Thứ nhất: lối đánh kiệu hay là nhị cập nhất, hai người thông lưng nhau hại một
người bằng những luật nhất định như để tay vào đùi, vào gối, ống chân, bàn chân tuỳ theo quân chờ về
hàng văn, hàng sách, hàng vạn… Muốn ăn quân gì hoặc chờ quân gì, cứ việc ra hiệu để bên kia để ý
đánh cho mà ăn hoặc hạ ù. Nhưng đó chỉ là phương pháp của các bịp non, dễ lộ tẩy, nếu người ta nghi
hoặc, khám bài thấy rõ sự đánh tầm bậy, gian lận thì nguy. Lối ấy không xứng đáng, tôi không thèm
dùng.
Thứ nhì: hụt nọc. Lối chơi này cần mĩ thuật lắm, người đánh phải có cả tài lẫn gan. Bắt cái xong,
mình phải cầm lấy bài nọc vờ chang đi mấy lớp. Thế là vài ba quân đã theo cái chang chui lọt, nằm
gọn trong tay áo mình rồi. Đến lúc lên bài, phải xoay đi cho phu nào vào phu ấy, lưng nào vào lưng
ấy, Thừa quân thì dễ ù lắm. Nếu ù… hạ bài xong cứ để mặc làng khám cho kĩ. Xong đâu đấy, gạt cả ra
một góc chiếu cho người chia bài… là mấy “quân bài trốn thẻ” trong tay áo đã thừa cơ chui tọt ra,
theo cái lúc “hỗn quân hỗn quan”, hợp với bọn lính thắng trận về cổng khải hoàn. Muốn đề phòng sự
làng nghi ngờ, thấy mình ù nhiều mà điểm lại bài nọc, bài rìa, thì có hai cách cản. Một là thấy mình hạ
xong ông “bạn đồng chí” cầm ngay lấy phần nọc vờ tìm quân ông ta đang chờ, phàn nàn rầm lên, “gọi
chó” rầm lên, ồ ạt xoá đi cho người kia không kịp điểm nữa. Hai là rút ở nọc lên mà ù. Quân bài chờ
ấy lẽ tất nhiên là quân mình thụt được ở nọc từ trước đã giấu sẵn trong tay. Lúc xoa tay xuống nọc vờ
rút nó lên thì trong lòng bàn tay phải có sẵn cả những quân mình đã hụt, trả vào nọc, chỉ “xách cổ” lên
một quân chờ ù. Đến thế thì ván nào mình ù, làng có điểm bài cũng không ngại gì nữa.
Lắm khi chơi với bọn thạo, không hụt nổi ở nọc thì mình phải dùng đến chước thứ ba, nghĩa là hụt
vào phần bài của ông “bạn đồng chí” với mình. Bắt cái xong, cầm phần bài mình trong tay rồi, mình
lại phải vớ lấy “phần bài tòng phạm” liệng trả ông bạn. Trong cái liệng rất ý tứ mà ít ai để ý ấy, ngón
tay cái với ngón tay trỏ của mình đã “họp đảng” với nhau giữ lại vài quân, trập phắt vào phần mình.
Thế là ông bạn cầm phần bài thiếu phải đánh bậy bạ cho qua cuộc, cốt sao “che mắt thế gian”.
Ấy, chỉ có thế thôi, bịp tài bàn cũng vậy hay tổ tôm cũng vậy. Cốt nhất phải có bộ mặt tài tử đóng
kịch, nghiễm nhiên, bệ vệ, cũng cốt nhất là ngồi vào một chỗ không ai ám nổi, tránh cho xa những bác
chầu rìa.
Trong cuộc giảng bài này, ông “tham” cho chúng tôi rõ cả phần thực hành lẫn phần lí thuyết. Nhanh
như chớp, ông giở ngón có bảo trước cho biết mà chúng tôi chịu, không sao vớ được cái “thiên biến
vạn hoá” của nhà quỷ thuật đại tài.
Bữa tiệc nào cũng phải có đồ nước nên nhà bạc bịp thuật thêm một câu chuyện ngắn nữa để làm
món đét-xe.
Một lần, ngồi vào cuộc với hai ông khách lạ mà tôi tưởng là quých, tôi vờ chang bài nọc, hụt xong,
để xuống đĩa thì bỗng phải giật mình lo sợ vì chỉ cuỗm có bốn quân mà sao phần nọc có lẽ thiếu
nhiều? Đang mải ngẫm nghĩ thì một ông khách lạ nắm chặt lấy tay tôi. Cuống quá, đã tái cả mặt nhưng
nhanh trí khôn, tôi cũng vội liều nắm chặt cổ tay ông ta làm cái “trả miếng”. Rồi chúng tôi cùng buông
nhau ra để cười sằng sặc, gập đôi người lại mà cười. Tôi hụt bốn quân bài thì ông khách ấy cũng hụt
ba quân cộng với một quân. Ông ta chia thừa cho phần bài của ông mà tôi thì hụt nọc! Chúng tôi gọi
buổi ấy là ngày “anh hùng tương ngộ”, cũng là “bịp lũa” cả mà bên nọ còn tưởng bên kia là mòng.
Trước mặt anh chàng dắt khách lấy hồ hòng chuyện nọ kia, mặt tiu nghỉu như chó bị thiến, chúng tôi
vỗ vai nhau, bắt tay nhau một cách ân cần, gọi nhau là “tri kỉ”.
II
Ông quân sư của bạc bịp
- Ông nên biết rằng: quá nửa đời người, tôi đã sống bằng nghề cờ bạc. Muốn sống về nghề cờ bạc,
phải có cách trừ khử những cái đáng nơm nớp lo ngại là cái đỏ cái đen… Hiện nay anh em tôn tôi
là… trùm đảng bạc bịp. Trước khi lên được địa vị này, tôi cũng đã lắm phen phải đóng những vai trò
mòng với quých cho một lũ bạc bịp tiền bối họ móc xé ruột gan đấy, ông ạ. Những lúc thất cơ lỡ vận
trước là vốn buôn cho tôi được hưởng cái lãi là cái địa vị… bây giờ.
Người đang kể tiểu sử của mình ra cho tôi với anh Vân nghe chính là ông ấm B… ở ngõ Hàng Cá.
Trong gian phòng gác mà cách bày biện đủ tỏ rằng chủ nhân cũng là hạng người thiệp đời, lịch sự,
chúng tôi đã được ông trùm tiếp một cách nhã nhặn mà lại được cả dịp đón nhặt tài liệu cho cuộc
phỏng vấn ngẫu nhiên đây.
Những người chỉ nghe danh mà không biết mặt ắt phải tưởng tượng rằng đến hạng người đáo để này
thì từ nét mặt, giọng nói, dáng đi cho đến tà áo, gấu quần, tất nhiên cái gì cũng phải có vẻ bịp cả! Trái
[12]
lại, ông ta là người trông đẫy đà, bệ vệ như một ông hậu bổ hoặc một viên tri châu
nào. Hai con
mắt rất sắc sảo, có đủ vẻ đối địch với đời, tiểu nhân cũng được mà quân tử cũng được. Miệng nói có
duyên một cách lạ, thường hay mỉm cười để “giá trị” cho câu chuyện: nhất là những lúc gọi đến thằng
nhỏ thì tiếng đồng sang sảng, thật là có giọng quan!
Chúng tôi họp mặt nhau mới độ một giờ mà trong câu chuyện đã thấy ngay cái không khí nồng nàn,
tri kỉ. Được dễ thân như thế là vì có anh Vân, người cùng đi với tôi để thăm ông ấm, trước nay đã làm
“chim mồi” cho ông để săn các bạn già cụ phán bên tỉnh Bắc cùng những tín đồ của “đổ bác giáo” bao
nhiêu lần rồi.
Vì vậy, ông ấm mới chẳng ngại kể lể tâm sự và nói rõ cả những bí mật nhà nghề đáng giấu kín cho
chúng tôi nghe. Nhưng trước khi cho biết những cái “vành ngoài vành trong”, ông hãy làm trạng sư cho
ông, cho địa vị xã hội của ông, và cho cái nghề không có môn bài của ông đã.
- Tại sao tôi, dòng dõi gia thế, lại làm đến cái nghề… bất nhã này? Thưa ông, nếu tôi có thật không
ra gì thì cái đó cũng chẳng phải lỗi tự tôi, tôi đã bị hại về hoàn cảnh xấu của xã hội. Nhưng tôi chỉ tự
trách mình và vẫn nên tự trách xã hội. Sống ở cái xã hội cờ bạc, tôi chỉ biết rằng tôi đã là kẻ rong chơi
bài bạc tự lúc thiếu thời. Tôi đã thua vì đỏ đen, tôi lại còn thua vì bịp nữa! Tôi đã phải xa gia đình vì
phá tan cơ nghiệp, tôi đã khốn khổ, ê trệ – ê trệ nhiều phen lắm, hai ông ạ – cho nên chính ngày nay là
ngày tôi đang trả thù cái bọn đã làm tôi hư hỏng, đã ngăn rào mọi đường công danh tiến thủ của tôi. Đó
có là công lí không? Tôi tưởng: làm việc thiện để đền ơn việc thiện, lấy việc ác để trả nghĩa việc ác,
thế mới là biết sống ở đời… Nói cho cùng, tôi cũng vui vì đã làm, đang làm, sau này nữa cũng vẫn cứ
làm, cái nghề bất lương, cái nghề tôi cho là phải. Tôi chỉ buồn có một nỗi: không theo đuổi nổi sự
nghiệp của ông cụ nhà tôi…
Đến đây, ông ấm ngừng lại, có vẻ buồn rầu. Ông có ý chờ một câu phê phán. Tôi vội phải lộ sự tôi
hiểu ý một cách kín đáo là đưa mắt nhìn cái ảnh lớn trong một khung vàng chói một ông cụ đi hia, mặc
áo rồng, đội mũ cánh chuồn từ một chỗ trịnh trọng giữa bàn thờ nhìn một cách nghiêm khắc xuống lũ
chúng tôi. Cử chỉ ấy có lẽ khiến ông ấm được một vài phút tự kiêu, nên lại vui lòng:
- Vậy các ông coi cờ bạc là hạng thế nào? Tâm lí họ ra sao? Họ khôn hay họ dại đấy?… Hai chữ
khôn với dại trong sự bài bạc không có nghĩa nhất định. Nếu ông thua để vợ con phải nheo nhóc, thiên
hạ sẽ đua nhau chê ông là dại thật đấy, nhưng nếu ông được tiền nghìn bạc vạn để tậu nhà tậu ruộng,
thiên hạ họ lại xô nhau vỗ tay, ca tụng ông là khôn! Những anh cờ bạc toàn là những anh – xin lỗi các
ông – những anh… “khôn sặc máu mồm” ra cả đấy, chứ các ông bảo họ dại cái nỗi gì? Tôi đây, tôi đã
là một thằng dại mãi rồi mà tôi lại cứ muốn cầu cái khôn trong cái dại, nên mới phải tìm một cách
“bảo hiểm” cho sự khôn!
Ông ấm cả cười. Chúng tôi cũng cười. Sau ông tiếp nốt (từ đây trở đi, tài hùng biện của ông mỗi
lúc một tăng):
- Thế các ông coi cái nghề của tôi bằng con mắt thản nhiên hay bằng con mắt khinh bỉ? Các ông nên
biết: tuy là bịp, tôi vẫn không làm một việc nhỏ mọn gì là bất nghĩa cả. Trong đám bạc, người đời đã
chỉ những muốn ăn thịt lẫn nhau cả, thì dù có bất nghĩa, tôi cũng chỉ bất nghĩa với một bọn bất nghĩa,
chứ những người hiền lành không tham lam, không muốn ăn thịt ai cả, có khi nào đến nỗi bị chúng tôi
hại đâu?
Xem ý anh Vân lại được hài lòng, vui sướng hơn cả ông ấm B… vì “bài cãi” ấy. Rồi anh nối lời
thuyết mãi, thuyết mãi… về cái nghĩa chính danh của sự bất nghĩa ở thời buổi vật chất, kim tiền này.
Buổi nói chuyện kéo đến lượt hò đun nước thứ ba. Chúng tôi phải đứng lên, xin cáo từ. Lời nói
cuối cùng của ông ấm B… là một câu phàn nàn về nạn kinh tế, về nỗi mòng, két mỗi ngày một hiếm,
không được mùa săn. Ông ta dặn chúng tôi nên rất để ý vào sự tìm đất để làm tiền.
Lời dặn ấy làm cho tôi phải nghĩ ngợi mãi? Vì sao? Vì nếu đối với ông ta, tôi không có mòng, sẽ bị
coi là đồ vô tích sự, và sẽ mất dịp đi lại với ông về sau. Thành thử ở vào trường hợp ấy, tôi rất thèm
thuồng ham muốn địa vị của anh Vân. Anh Vân tuy chưa có gan dắt bịp đến bắt các anh em bạn thân,
song anh ta cũng còn may vì có được một ông thân sinh ham mê tiền bạc. Và mấy ông tóc bạc, bạn của
ông cụ ấy nữa. Chỗ để đào tiền đã có sẵn, anh ta lại sẵn cả chỗ để ném tiền đi: những mẻng! Còn tôi,
tuy có nhiều bạn thân ham mê bài bạc thật, nhưng không nỡ dắt bịp đến bắt, lại không có nổi lấy một
ông bố có máu mê ấy nên không biết liệu phải đối phó với ông ấm B… bằng cách nào…
Tưởng chỉ còn cái kế cuối cùng là sự hẹn lần vậy. Có khi mình hẹn lần vì bất đắc dĩ mà người ta lại
nhầm mình là hạng người cẩn thận, kín đáo, chắc chắn cũng không biết chừng. Vả lại, trước khi nhúng
tay vào một việc có thể phạm tới danh dự của mình chút ít, dễ thường cứ bắt người ta nhắm mắt mà
làm liều, không cho có ngày được rõ diện mạo, tính tình nhân cách và mọi cử chỉ của từng viên chức
trong “bộ tham mưu” ư?
Cái ngày mà tôi được rõ mọi việc cũng không xa. May quá, nó đến trước khi tôi phải hẹn lần.
*
* *
Cái lịch trên tường phô ra hai con số: 30. Gian phòng gác ở phố Hàng Cá, vào những ngày cuối
tháng như ngày này, có cái vẻ nhộn nhịp của một toà tham mưu giữa lúc hai bên quân đương giao chiến
với nhau thật kịch liệt.
Vừa phần vì lẽ “năng tới coi thường”, vừa phần hai bên đã coi nhau là thân mật, ông ấm để mặc
chúng tôi mỗi anh ngồi chầu một chén nước nóng còn mình thì một tay đỡ lấy trán, tay kia bấm đốt, tính
lẩm bẩm như một thầy bói lấy số tử vi: “… Hai đám xì một đám bất, một đám xóc đĩa và một đám tổ
tôm. Đám xì ở Hàng Kèn đã có Ba Mỹ Ký với Bập đánh giác… đám xì đường Cột Cờ đã có tay Bỉnh,
tay Sính đánh đòn Vân Nam… Còn đám bất phố Hàng Bông đã có lão Cường hoặc đánh lớp, hoặc
đánh mẫu tử. Xong đứt ba đám… Còn đám tổ tôm không biết nên tính thế nào? Chỗ chơi là chỗ đài
các phong lưu mà phái Cửu Sần đi thì sợ lộ!… Ác quá, có cụ Ngọc là người trông có mẽ một chút thì
lại mắc xuống Nam. Cẩu thật!… Còn mấy anh lái nâu động mả, giữa lúc giời đất này cũng về khua xóc
đĩa nữa, đã nằm chờ sẵn như lợn cả kia thì biết cắt ai đi chọc tiết bây giờ?… Chỉ có mình, mình là tay
khả dĩ đối thủ được với chúng thôi, thì mình lại phải cái tội đã loã lồ quá…
Mấy tiếng gót giày khẽ nện vào bậc thang gác báo trước cho một người còn trẻ tuổi, ăn mặc ra một
tay trong phái bồi, bếp, rón rén bước lên. Thấy chúng tôi lạ mặt, người ấy có vẻ ngần ngại, chỉ đưa
mắt hỏi ông ấm chứ không nói gì. Ông này làm ngay một câu:
- Thế nào?… Được, cứ tự nhiên, chỗ anh em cả.
Người trẻ tuổi kia lộ ngay cái vẻ sung sướng ra như đang có một gánh nặng trên vai mà đến lúc vừa
hạ được nó xuống đất. Nhưng đôi lông mày vẫn cau:
- Hỏng mất cụ ạ!…
- Thế nào mà đến nỗi hỏng? Thu xếp thế mà lại hỏng thì hỏng thế nào?
- Tôi đã dò lão ta rất kĩ lưỡng. Thằng cha ấy nó biết rõ lối đánh giác từ bao giờ ấy mất rồi. Tôi gợi
chuyện thì nó đã nói toạc móng heo ra, những là nó biết hết tất cả các lối giác mùi hay giác bóng cũng
vậy, và chỉ có những đồ mù thì mới không biết cách khám thấy dấu, chứ cứ để nghiêng quân bài dưới
ánh sáng đèn một tí thì anh nào đến thong manh dở cũng phải biết ngay! Lại còn nỗi khó khăn này:
muốn bắt lão ta, phải đến tận nhà thằng cháu lão ta, chứ lão nhất định không đi chơi chỗ nào lạ. Tôi
phải tìm cách “bỏ nhỏ” với thằng cháu lão và việc ấy cũng ổn rồi. Vậy thì cụ xếp cho một người cản
nữa để tôi đánh Vân Nam vậy.
Ông ấm ngần ngại:
- Khốn nỗi anh mà đánh đòn Vân Nam thì tôi không lấy gì làm chắc lắm. Có được anh Ba Mỹ Ký
thì lại trót hẹn mất với đám ở Hàng Kèn rồi. Hay là tối hôm nay, ta hãy đánh siệng, làng xoàng độ năm
hào một cho qua buổi để mơn lão ấy đến trưa mai hoặc tối mai, tôi cho gọi Ba Mỹ Ký đi với anh đến
thì thật là cứ “nhét đất thó vào lỗ mũi nó mà lấy tiền…”!
- Không được! Lão ấy nó đang cao hứng, nếu để đến tận trưa mai hoặc tối mai thì từ buổi sáng sớm
nó đã có thể dậy để đi cân sâm cho con nó rồi, mình còn hòng bắt nó lấy cái gì nữa?
- Thế đích xác là nó có độ bao nhiêu?
- Độ chừng sáu công
[13]
tất cả. Cụ phải tính ngay cho chứ mà…
- Thôi được, cứ về đi rồi độ sáu giờ chiều lại đây lấy nốt người cản. Để tôi có thời giờ, nghĩ thật
kĩ xem sao.
Người trẻ tuổi ấy trước khi quay gót bước xuống thang còn liếc mắt nhìn trộm chúng tôi lần cuối
cùng, dáng dấp vẫn lộ vẻ ngượng. Đến bây giờ, ông ấm mới giới thiệu:
- Đấy, một đàn em của tôi đấy. Trước làm thầy kí cho hiệu buôn lớn, chữ nghĩa kể cũng khá, sau vì
kinh tế nên bị loại, nay phải tạm sinh nhai về nghề này. Vì phải giao thiệp với hạng trếch để săn mòng,
két trong đám bồi, bếp nên tôi bắt anh ta ăn mặc đúng lối trếch. Nếu hắn diện Âu phục vào thì các ông
phải biết… Nói tiếng Tây nhanh làu làu. Chỉ trông mặt mà bắt hình dong thì nhầm to.
Anh Vân khen:
- Phải… gớm mưu trí của ngài kể cũng đáng sợ thật. Mà thế thì ra đàn em của ông toàn là những tay
đáo để, ra phết cả, “chơi được” cả…
- Thì đã hẳn!… Vào nghề này mà hiền lành thì làm ăn ra sao? Hai ông nên biết rằng không kể một
số khá đông người, nửa là đồng nghiệp, nửa là đàn em của t
Vũ Trọng Phụng
Nhà xuất bản Văn học 2006
Chuyển text và tạo ebook: Caruri
Chia sẽ ebook : http://downloadsachmienphi.com/
Tham gia cộng đồng chia sẽ sách :
Fanpage : https://www.facebook.com/downloadsachfree
Cộng đồng Google : http://bit.ly/downloadsach
Mục lục
I Ông thân tôi là “mòng”
II Ông quân sư của bạc bịp
III Đố anh nào bịt mắt được tôi
IV Ba nhân vật
V Bốn đồng ngửa sấp
VI Ruột quân xúc xắc
VII Xưởng chế tạo khí giới
VIII Những thủ đoạn ngoài chương trình b…
IX Một cuộc vận động tự trị
X Canh tài bàn… tay tư
XI Tấm lòng đi bịp, từ nay xin chừa
XII Nạn kinh tế, sở liêm phóng với ông ấm B…
XIII Cái “lưới nhện”
XIV Kẻ ở người về
I
Ông thân tôi là “mòng”
Nụ cười vẫn thường lộ trên cặp môi đỏ tựa thoa son, anh Vân bỗng ủ dột, muốn như có vẻ chán đời.
Do lẽ gì, cái thái độ trái ngược như vậy? Vì ông thân anh, một cụ phán thượng hạng đã về hưu, hưu
bổng hàng tháng rất to, với bà mẫu anh, một người mẹ đảm, đã một tay tậu nổi mấy toà nhà lộng lẫy mà
không để cho anh được tự do tiêu, phá chăng? Vì ý trung nhân của anh, một cô gái tân thời óc chứa đầy
những tình cảm đã phụ anh chăng? Hay vì mảnh bằng tốt nghiệp của trường cao đẳng thương mại chưa
cho phép anh được chiếm một ghế ngồi trong một công sở? Lạ! Con một nhà giàu, lại sẽ là chồng một
mĩ nhân, địa vị như thế, tại sao anh Vân lại chán đời? Cái buồn của anh chàng này chắc có chứa sự bí
mật gì đây…
*
* *
Chiều hôm ấy, anh Vân ghé vào tai tôi:
- Tôi đã đỡ được nỗi chán đời vì đã tìm ra được cách mở két của ông cụ. Tôi mới có được một
mẻng rất đáng yêu cả tinh thần lẫn xác thịt nhưng phải cái hơi đáng giận là có cái đức lớn trong sự tiêu
tiền.
Tôi rất lấy làm phàn nàn về điều đó, nhưng biết làm thế nào? Phụ nữ bây giờ hầu hết thế cả! Tình
thế này ép tôi phải tính… Đáng lẽ tôi cũng không dùng đến kế này, vì nó bất lịch sự quá, nhưng anh
tính: ông cụ đưa tiền cho mình tiêu thì tỏ ý xót xa mà đến khi ngồi vào đám bạc, hết trăm này đến chục
khác chẳng lấy làm tiếc, anh bảo thế thì còn gì ức cho mình hơn?
Nói tới đó, anh ngắt câu chuyện, đưa ra cho tôi một lá thư còn ngỏ. Ngoài bì đề:
Monsieur Ấm B…
N… Ruelle des poissons, Hanoi
[1]
Còn trong thư:
[2]
Bắc Ninh, le 26 février 1933
Thưa ngài,
Cùng nhau gắn bó đã bao nhiêu lần, tôi vẫn để ý mãi, nay thật đến lúc phải phiền ngài rồi đây.
Mong ngài xếp cho một người có vẻ ông tham, ông phán, đúng chiều thứ bảy sang bên tôi có hàng.
Chính ông thân tôi là mòng, chắc chắn lắm! Còn nhiều két khác nữa, nhưng tôi chưa dám cam
đoan vội, vì chưa xếp xong. Chỉ cần người chơi tổ tôm, tài bàn giỏi thôi, không dùng đến bát, đĩa
gì cả. Đáng lẽ tôi phải “thân hành” sang cầu cứu song bận thu xếp, phải dùng chữ thay người, có
điều đường đột, ngài cũng xá đi cho. Và xin báo trước bằng thơ, nói rõ hình dạng người mà ngài
phái sang, để chúng tôi ra ga đón cho tiện. Xin nhớ: chúng tôi ở phố Tiền An, số nhà…
Kính thư
Vân
Xem xong, bốn mắt gặp nhau, tôi cố nhịn cười:
- Anh gọi bịp về bắt ông cụ đấy à? Gớm! Có hiếu nhỉ!
Anh Vân chỉ mỉm cười một cách khoái chí rồi lấy hồ dán kín phong thư.
*
* *
Hai hôm sau. Trên con đường chạy ra ga Bắc Ninh với hai dãy cây um tùm đứng giàn hai bên, một
chiếc ô tô hàng đứng chờ, mấy cái xe cao su lượn nghênh ngang, lùng khách. Anh Vân rảo bước đi bên
tôi, cầm một lá thư lẩm nhẩm: “Đúng 6 giờ chiều, ở ga xuống, người nào mặc ta, cầm máy ảnh, mặc cả
xe đến phố Tiền An là đích đấy…”
Đúng 6 giờ. Một hồi còi… Mười toa tàu lù lù tiến đến sân ga, nhả ra độ mười hành khách. Có
người gọi vợ, gọi con, mặc cả xe om sòm, có người bị phu xe túm bâu lấy mà chỉ biết kêu rối rít:
“Không, không!…” Bỗng có một giọng dõng dạc, to hơn hết, nổi lên trong đám khách ồn ào:
- Chúng mày, thằng nào biết, mau kéo tao đến phố Tiền An, nhà cụ…
- Đây rồi…!
[3]
- Phải, đích người này rồi. Áo gấm trong, áo sa tanh ngoài, giày ban , tay có cầm máy ảnh. Răng
vàng hé lộ mỗi khi cười lệch miệng, kính đồi mồi nằm trên sống mũi dọc dừa nghiêm trang. Mặt láu
lỉnh ra phết ăn người.
Ba chúng tôi bắt tay nhau. Anh Vân pha trò mà giới thiệu:
- Đây là chú nó… còn ngài này… “ân nhân” của tôi!
Ông ân nhân của tôi ấy là ông đến giết bố nó để cứu con, mấy phút sau, được anh Vân rước về nhà
[4]
kêu rầm lên: “Thưa thầy, thưa đẻ, có bác tham Ngọc vốn là bạn cũ sang chơi với con” thì được cả
nhà đón chào mừng rỡ. Nhất là lại được ông cụ già đạo mạo tiếp đãi ân cần, tự đem thân ra đóng cái
vai con chim mòng đậu vừa đúng tầm súng cho kẻ đi săn.
Cuộc gặp gỡ của chủ với khách bắt đầu gắn bó bằng một bữa cơm bề bộn những thịnh soạn. Trong
bữa tiệc kéo luôn hai tiếng đồng hồ, người ta nói đến những chuyện giời nắng, giời mưa, nạn khủng
[5]
hoảng , cuộc chiến tranh Trung – Nhật, việc nhà nước thi hành chính sách tiết kiệm rút lương, thải
bớt người làm. Ông “tham Ngọc” của anh Vân ăn nói ôn tồn, đóng cái vai kịch của mình một cách thạo
[6]
lắm. Ông hết bàn luận về đạo nghị định ngày 6 Octobre 1931 lại làm ra mặt học rộng, đả động đến
[7]
cả bộ “mặt trái” của hội Quốc Liên . Có khi ông tự giới thiệu: chỉ ham đọc sách và gặp dịp nhàn thì
chỉ du ngoạn những phong cảnh đẹp chớ ít khi để ý đến sự chơi bời.
Thấy con người giỏi mà nết na như vậy, cụ phán khâm phục ông ra mặt, ngợi khen mãi ông là người
hữu ích, chẳng lêu lổng như em Vân. Rồi cụ cười khà khà:
- Dù bác không chơi bời gì thì tổ tôm, tài bàn cũng phải biết chứ?
Nụ cười vẫn giữ trên môi, ông “tham Ngọc” thong thả đáp lại:
- Bẩm vâng! Ngoài sự đọc sách với chơi ảnh ra, con cũng chẳng còn cách gì giải trí nữa. Đi hát ả
đào hay rượu chè, hút xách thì tai hoạ, mà giai gái thì bẩm… chúng con đã quá tuổi rồi! Vả lại tổ tôm,
tài bàn là cái chơi thanh nhã, khác nào như cuộc đấu trí. Con cho đó là một cách giải trí lịch sự mà
người thượng lưu cần phải biết.
[8]
Thiết tưởng một phạm nhân can tội giết người mà được trạng sư
cãi cho trắng án cũng vị tất đã
có lòng kính phục, ngưỡng mộ, nhớ ơn ông thầy cãi của mình như cụ phán của tôi kính phục, ngưỡng
mộ, nhớ ơn ông “trạng sư của tài bàn, tổ tôm” lúc ấy. Đánh trúng vào chỗ yếu của ông cụ rồi, tay bịp
già đã thèm nhận những lời ân cần mời mọc vào cuộc tài bàn ngay cho đâu!
- Bẩm con định sang hầu cụ với thăm anh Vân con rồi nhân tiện đi chụp ít ảnh vì cảnh những đồi
Lim đẹp đã có tiếng… chứ không nghĩ đến sự sang đây lại được cụ ép đánh tài bàn!
Cụ phán cố phân trần cho ra lẽ:
- Nhưng còn cả ngày mai thì bác ngại gì? Tôi chỉ sợ bác chả đem nổi vài vạn tấm kính sáng mà
chụp cho xuể thôi.
Thế là thành cuộc. Bốn vai trò: ông “tham Ngọc” người đi săn, anh Vân người hướng đạo, ông
thân sinh ra anh, chim mòng, với tôi, một người tò mò, đi xem. Tôi rất lấy làm lạ vì cứ thấy vai con
chim mòng thắng trận, ù tràn đi mà nhà đi săn kia đã phí gần hai mươi viên đạn. Chính anh Vân cũng
hơi tái mặt, chỉ sợ người mình lôi về chưa hẳn là thiện xạ, có bao nhiêu lại đến chui hết cả vào két của
ông cụ thì…
Làm ra bộ thua cay, nóng tiết, đang đánh một, hai, ba đồng, ông “tham Ngọc” rủ đánh gấp đôi.
- Thưa cụ, đánh nhỏ con lại hay thua, có đánh to mới cao được.
Gặp hồi đỏ, ông cụ hăng hái như đang say rượu nhận lời liền! Thế là từ lúc đánh hai, bốn, sáu đồng,
[9]
ông cụ năm thì mười hoạ mới được một ván ù suông. Ù tài bàn, sửu bàn chỉ riêng về ông “tham
Ngọc”.
Thấy số giấy bạc trước mặt, trong túi mình cứ lần lượt chui ra rồi bay đi với gió, moi ví mãi nóng
[10]
tiết, ông già thỉnh thoảng lại làm ván ké một “rồng xanh”
. Nhưng bao nhiêu cũng đều “giá vũ đằng
vân” đi đâu mất cả!
Cái ví lép kẹp của ông già giục cả làng tan chầu, đứng lên:
- Thôi, mời bác lên gác đi nghỉ với em. Bác đỏ và đánh cao quá, thật số bác hôm nay phát tài. Tôi
thua dễ đến hơn sáu chục!…
Ông cụ “tuy không ăn ớt mà cay” nhưng vẫn vui vẻ như thường, vẫn thản nhiên, lộ cái vẻ yêu con
người đã lịch thiệp lại có biệt tài, đánh tài bàn cao.
Còn tôi, tuy tò mò ngồi để ý mất cả buổi tối, cũng không sao khám phá nổi những ngón bịp! Vậy
“mặt mũi” những ngón bịp thế nào?
*
* *
Trên gác riêng của anh Vân, giữa lúc chia tiền.
- Vốn tôi đem sang: mười lăm đồng, vốn bác: năm đồng, mà đây tám mươi ba tất cả, thế là cụ bị
mất đứt 63 đồng. Đáng lẽ ta chia ba, ông ấm B… ở Hà Nội với tôi hai, còn bác một. Nghĩa là cả ba
đạo binh cùng hưởng: đoàn hướng đạo, đoàn quân thắng trận với bộ tham mưu. Nhưng mòng là cụ nhà
bác thì bác cứ cầm bốn mươi của. Anh em chúng tôi chỉ dùng 23 hòn đạn là đủ rồi.
Trước cái thái độ nhã nhặn và biết điều này, anh Vân đáp bằng cái gật đầu, chìa tay ra nhận và nói:
[11]
- Để lần sau bác sang, tôi gọi cho mấy via
nữa đến, rồi ta lại sẽ có dịp được chia hương hoả
với nhau. Nhưng tôi muốn bác cho xem qua các ngón để sau này mà tránh…
Nhà đi săn cười. Một cuộc phấn đấu chốc lát trong óc anh chàng: bí mật nhà nghề, có nên? Hay
không?
Sau một lúc lưỡng lự, “ông tham” có ý lấy chúng tôi làm chỗ đồng chí, cũng chẳng phải ngại gì.
Chúng tôi ngồi nghe như hai cậu học trò trước một giáo sư dạy khoa quỷ thuật.
- Có ba lối tài bàn. Thứ nhất: lối đánh kiệu hay là nhị cập nhất, hai người thông lưng nhau hại một
người bằng những luật nhất định như để tay vào đùi, vào gối, ống chân, bàn chân tuỳ theo quân chờ về
hàng văn, hàng sách, hàng vạn… Muốn ăn quân gì hoặc chờ quân gì, cứ việc ra hiệu để bên kia để ý
đánh cho mà ăn hoặc hạ ù. Nhưng đó chỉ là phương pháp của các bịp non, dễ lộ tẩy, nếu người ta nghi
hoặc, khám bài thấy rõ sự đánh tầm bậy, gian lận thì nguy. Lối ấy không xứng đáng, tôi không thèm
dùng.
Thứ nhì: hụt nọc. Lối chơi này cần mĩ thuật lắm, người đánh phải có cả tài lẫn gan. Bắt cái xong,
mình phải cầm lấy bài nọc vờ chang đi mấy lớp. Thế là vài ba quân đã theo cái chang chui lọt, nằm
gọn trong tay áo mình rồi. Đến lúc lên bài, phải xoay đi cho phu nào vào phu ấy, lưng nào vào lưng
ấy, Thừa quân thì dễ ù lắm. Nếu ù… hạ bài xong cứ để mặc làng khám cho kĩ. Xong đâu đấy, gạt cả ra
một góc chiếu cho người chia bài… là mấy “quân bài trốn thẻ” trong tay áo đã thừa cơ chui tọt ra,
theo cái lúc “hỗn quân hỗn quan”, hợp với bọn lính thắng trận về cổng khải hoàn. Muốn đề phòng sự
làng nghi ngờ, thấy mình ù nhiều mà điểm lại bài nọc, bài rìa, thì có hai cách cản. Một là thấy mình hạ
xong ông “bạn đồng chí” cầm ngay lấy phần nọc vờ tìm quân ông ta đang chờ, phàn nàn rầm lên, “gọi
chó” rầm lên, ồ ạt xoá đi cho người kia không kịp điểm nữa. Hai là rút ở nọc lên mà ù. Quân bài chờ
ấy lẽ tất nhiên là quân mình thụt được ở nọc từ trước đã giấu sẵn trong tay. Lúc xoa tay xuống nọc vờ
rút nó lên thì trong lòng bàn tay phải có sẵn cả những quân mình đã hụt, trả vào nọc, chỉ “xách cổ” lên
một quân chờ ù. Đến thế thì ván nào mình ù, làng có điểm bài cũng không ngại gì nữa.
Lắm khi chơi với bọn thạo, không hụt nổi ở nọc thì mình phải dùng đến chước thứ ba, nghĩa là hụt
vào phần bài của ông “bạn đồng chí” với mình. Bắt cái xong, cầm phần bài mình trong tay rồi, mình
lại phải vớ lấy “phần bài tòng phạm” liệng trả ông bạn. Trong cái liệng rất ý tứ mà ít ai để ý ấy, ngón
tay cái với ngón tay trỏ của mình đã “họp đảng” với nhau giữ lại vài quân, trập phắt vào phần mình.
Thế là ông bạn cầm phần bài thiếu phải đánh bậy bạ cho qua cuộc, cốt sao “che mắt thế gian”.
Ấy, chỉ có thế thôi, bịp tài bàn cũng vậy hay tổ tôm cũng vậy. Cốt nhất phải có bộ mặt tài tử đóng
kịch, nghiễm nhiên, bệ vệ, cũng cốt nhất là ngồi vào một chỗ không ai ám nổi, tránh cho xa những bác
chầu rìa.
Trong cuộc giảng bài này, ông “tham” cho chúng tôi rõ cả phần thực hành lẫn phần lí thuyết. Nhanh
như chớp, ông giở ngón có bảo trước cho biết mà chúng tôi chịu, không sao vớ được cái “thiên biến
vạn hoá” của nhà quỷ thuật đại tài.
Bữa tiệc nào cũng phải có đồ nước nên nhà bạc bịp thuật thêm một câu chuyện ngắn nữa để làm
món đét-xe.
Một lần, ngồi vào cuộc với hai ông khách lạ mà tôi tưởng là quých, tôi vờ chang bài nọc, hụt xong,
để xuống đĩa thì bỗng phải giật mình lo sợ vì chỉ cuỗm có bốn quân mà sao phần nọc có lẽ thiếu
nhiều? Đang mải ngẫm nghĩ thì một ông khách lạ nắm chặt lấy tay tôi. Cuống quá, đã tái cả mặt nhưng
nhanh trí khôn, tôi cũng vội liều nắm chặt cổ tay ông ta làm cái “trả miếng”. Rồi chúng tôi cùng buông
nhau ra để cười sằng sặc, gập đôi người lại mà cười. Tôi hụt bốn quân bài thì ông khách ấy cũng hụt
ba quân cộng với một quân. Ông ta chia thừa cho phần bài của ông mà tôi thì hụt nọc! Chúng tôi gọi
buổi ấy là ngày “anh hùng tương ngộ”, cũng là “bịp lũa” cả mà bên nọ còn tưởng bên kia là mòng.
Trước mặt anh chàng dắt khách lấy hồ hòng chuyện nọ kia, mặt tiu nghỉu như chó bị thiến, chúng tôi
vỗ vai nhau, bắt tay nhau một cách ân cần, gọi nhau là “tri kỉ”.
II
Ông quân sư của bạc bịp
- Ông nên biết rằng: quá nửa đời người, tôi đã sống bằng nghề cờ bạc. Muốn sống về nghề cờ bạc,
phải có cách trừ khử những cái đáng nơm nớp lo ngại là cái đỏ cái đen… Hiện nay anh em tôn tôi
là… trùm đảng bạc bịp. Trước khi lên được địa vị này, tôi cũng đã lắm phen phải đóng những vai trò
mòng với quých cho một lũ bạc bịp tiền bối họ móc xé ruột gan đấy, ông ạ. Những lúc thất cơ lỡ vận
trước là vốn buôn cho tôi được hưởng cái lãi là cái địa vị… bây giờ.
Người đang kể tiểu sử của mình ra cho tôi với anh Vân nghe chính là ông ấm B… ở ngõ Hàng Cá.
Trong gian phòng gác mà cách bày biện đủ tỏ rằng chủ nhân cũng là hạng người thiệp đời, lịch sự,
chúng tôi đã được ông trùm tiếp một cách nhã nhặn mà lại được cả dịp đón nhặt tài liệu cho cuộc
phỏng vấn ngẫu nhiên đây.
Những người chỉ nghe danh mà không biết mặt ắt phải tưởng tượng rằng đến hạng người đáo để này
thì từ nét mặt, giọng nói, dáng đi cho đến tà áo, gấu quần, tất nhiên cái gì cũng phải có vẻ bịp cả! Trái
[12]
lại, ông ta là người trông đẫy đà, bệ vệ như một ông hậu bổ hoặc một viên tri châu
nào. Hai con
mắt rất sắc sảo, có đủ vẻ đối địch với đời, tiểu nhân cũng được mà quân tử cũng được. Miệng nói có
duyên một cách lạ, thường hay mỉm cười để “giá trị” cho câu chuyện: nhất là những lúc gọi đến thằng
nhỏ thì tiếng đồng sang sảng, thật là có giọng quan!
Chúng tôi họp mặt nhau mới độ một giờ mà trong câu chuyện đã thấy ngay cái không khí nồng nàn,
tri kỉ. Được dễ thân như thế là vì có anh Vân, người cùng đi với tôi để thăm ông ấm, trước nay đã làm
“chim mồi” cho ông để săn các bạn già cụ phán bên tỉnh Bắc cùng những tín đồ của “đổ bác giáo” bao
nhiêu lần rồi.
Vì vậy, ông ấm mới chẳng ngại kể lể tâm sự và nói rõ cả những bí mật nhà nghề đáng giấu kín cho
chúng tôi nghe. Nhưng trước khi cho biết những cái “vành ngoài vành trong”, ông hãy làm trạng sư cho
ông, cho địa vị xã hội của ông, và cho cái nghề không có môn bài của ông đã.
- Tại sao tôi, dòng dõi gia thế, lại làm đến cái nghề… bất nhã này? Thưa ông, nếu tôi có thật không
ra gì thì cái đó cũng chẳng phải lỗi tự tôi, tôi đã bị hại về hoàn cảnh xấu của xã hội. Nhưng tôi chỉ tự
trách mình và vẫn nên tự trách xã hội. Sống ở cái xã hội cờ bạc, tôi chỉ biết rằng tôi đã là kẻ rong chơi
bài bạc tự lúc thiếu thời. Tôi đã thua vì đỏ đen, tôi lại còn thua vì bịp nữa! Tôi đã phải xa gia đình vì
phá tan cơ nghiệp, tôi đã khốn khổ, ê trệ – ê trệ nhiều phen lắm, hai ông ạ – cho nên chính ngày nay là
ngày tôi đang trả thù cái bọn đã làm tôi hư hỏng, đã ngăn rào mọi đường công danh tiến thủ của tôi. Đó
có là công lí không? Tôi tưởng: làm việc thiện để đền ơn việc thiện, lấy việc ác để trả nghĩa việc ác,
thế mới là biết sống ở đời… Nói cho cùng, tôi cũng vui vì đã làm, đang làm, sau này nữa cũng vẫn cứ
làm, cái nghề bất lương, cái nghề tôi cho là phải. Tôi chỉ buồn có một nỗi: không theo đuổi nổi sự
nghiệp của ông cụ nhà tôi…
Đến đây, ông ấm ngừng lại, có vẻ buồn rầu. Ông có ý chờ một câu phê phán. Tôi vội phải lộ sự tôi
hiểu ý một cách kín đáo là đưa mắt nhìn cái ảnh lớn trong một khung vàng chói một ông cụ đi hia, mặc
áo rồng, đội mũ cánh chuồn từ một chỗ trịnh trọng giữa bàn thờ nhìn một cách nghiêm khắc xuống lũ
chúng tôi. Cử chỉ ấy có lẽ khiến ông ấm được một vài phút tự kiêu, nên lại vui lòng:
- Vậy các ông coi cờ bạc là hạng thế nào? Tâm lí họ ra sao? Họ khôn hay họ dại đấy?… Hai chữ
khôn với dại trong sự bài bạc không có nghĩa nhất định. Nếu ông thua để vợ con phải nheo nhóc, thiên
hạ sẽ đua nhau chê ông là dại thật đấy, nhưng nếu ông được tiền nghìn bạc vạn để tậu nhà tậu ruộng,
thiên hạ họ lại xô nhau vỗ tay, ca tụng ông là khôn! Những anh cờ bạc toàn là những anh – xin lỗi các
ông – những anh… “khôn sặc máu mồm” ra cả đấy, chứ các ông bảo họ dại cái nỗi gì? Tôi đây, tôi đã
là một thằng dại mãi rồi mà tôi lại cứ muốn cầu cái khôn trong cái dại, nên mới phải tìm một cách
“bảo hiểm” cho sự khôn!
Ông ấm cả cười. Chúng tôi cũng cười. Sau ông tiếp nốt (từ đây trở đi, tài hùng biện của ông mỗi
lúc một tăng):
- Thế các ông coi cái nghề của tôi bằng con mắt thản nhiên hay bằng con mắt khinh bỉ? Các ông nên
biết: tuy là bịp, tôi vẫn không làm một việc nhỏ mọn gì là bất nghĩa cả. Trong đám bạc, người đời đã
chỉ những muốn ăn thịt lẫn nhau cả, thì dù có bất nghĩa, tôi cũng chỉ bất nghĩa với một bọn bất nghĩa,
chứ những người hiền lành không tham lam, không muốn ăn thịt ai cả, có khi nào đến nỗi bị chúng tôi
hại đâu?
Xem ý anh Vân lại được hài lòng, vui sướng hơn cả ông ấm B… vì “bài cãi” ấy. Rồi anh nối lời
thuyết mãi, thuyết mãi… về cái nghĩa chính danh của sự bất nghĩa ở thời buổi vật chất, kim tiền này.
Buổi nói chuyện kéo đến lượt hò đun nước thứ ba. Chúng tôi phải đứng lên, xin cáo từ. Lời nói
cuối cùng của ông ấm B… là một câu phàn nàn về nạn kinh tế, về nỗi mòng, két mỗi ngày một hiếm,
không được mùa săn. Ông ta dặn chúng tôi nên rất để ý vào sự tìm đất để làm tiền.
Lời dặn ấy làm cho tôi phải nghĩ ngợi mãi? Vì sao? Vì nếu đối với ông ta, tôi không có mòng, sẽ bị
coi là đồ vô tích sự, và sẽ mất dịp đi lại với ông về sau. Thành thử ở vào trường hợp ấy, tôi rất thèm
thuồng ham muốn địa vị của anh Vân. Anh Vân tuy chưa có gan dắt bịp đến bắt các anh em bạn thân,
song anh ta cũng còn may vì có được một ông thân sinh ham mê tiền bạc. Và mấy ông tóc bạc, bạn của
ông cụ ấy nữa. Chỗ để đào tiền đã có sẵn, anh ta lại sẵn cả chỗ để ném tiền đi: những mẻng! Còn tôi,
tuy có nhiều bạn thân ham mê bài bạc thật, nhưng không nỡ dắt bịp đến bắt, lại không có nổi lấy một
ông bố có máu mê ấy nên không biết liệu phải đối phó với ông ấm B… bằng cách nào…
Tưởng chỉ còn cái kế cuối cùng là sự hẹn lần vậy. Có khi mình hẹn lần vì bất đắc dĩ mà người ta lại
nhầm mình là hạng người cẩn thận, kín đáo, chắc chắn cũng không biết chừng. Vả lại, trước khi nhúng
tay vào một việc có thể phạm tới danh dự của mình chút ít, dễ thường cứ bắt người ta nhắm mắt mà
làm liều, không cho có ngày được rõ diện mạo, tính tình nhân cách và mọi cử chỉ của từng viên chức
trong “bộ tham mưu” ư?
Cái ngày mà tôi được rõ mọi việc cũng không xa. May quá, nó đến trước khi tôi phải hẹn lần.
*
* *
Cái lịch trên tường phô ra hai con số: 30. Gian phòng gác ở phố Hàng Cá, vào những ngày cuối
tháng như ngày này, có cái vẻ nhộn nhịp của một toà tham mưu giữa lúc hai bên quân đương giao chiến
với nhau thật kịch liệt.
Vừa phần vì lẽ “năng tới coi thường”, vừa phần hai bên đã coi nhau là thân mật, ông ấm để mặc
chúng tôi mỗi anh ngồi chầu một chén nước nóng còn mình thì một tay đỡ lấy trán, tay kia bấm đốt, tính
lẩm bẩm như một thầy bói lấy số tử vi: “… Hai đám xì một đám bất, một đám xóc đĩa và một đám tổ
tôm. Đám xì ở Hàng Kèn đã có Ba Mỹ Ký với Bập đánh giác… đám xì đường Cột Cờ đã có tay Bỉnh,
tay Sính đánh đòn Vân Nam… Còn đám bất phố Hàng Bông đã có lão Cường hoặc đánh lớp, hoặc
đánh mẫu tử. Xong đứt ba đám… Còn đám tổ tôm không biết nên tính thế nào? Chỗ chơi là chỗ đài
các phong lưu mà phái Cửu Sần đi thì sợ lộ!… Ác quá, có cụ Ngọc là người trông có mẽ một chút thì
lại mắc xuống Nam. Cẩu thật!… Còn mấy anh lái nâu động mả, giữa lúc giời đất này cũng về khua xóc
đĩa nữa, đã nằm chờ sẵn như lợn cả kia thì biết cắt ai đi chọc tiết bây giờ?… Chỉ có mình, mình là tay
khả dĩ đối thủ được với chúng thôi, thì mình lại phải cái tội đã loã lồ quá…
Mấy tiếng gót giày khẽ nện vào bậc thang gác báo trước cho một người còn trẻ tuổi, ăn mặc ra một
tay trong phái bồi, bếp, rón rén bước lên. Thấy chúng tôi lạ mặt, người ấy có vẻ ngần ngại, chỉ đưa
mắt hỏi ông ấm chứ không nói gì. Ông này làm ngay một câu:
- Thế nào?… Được, cứ tự nhiên, chỗ anh em cả.
Người trẻ tuổi kia lộ ngay cái vẻ sung sướng ra như đang có một gánh nặng trên vai mà đến lúc vừa
hạ được nó xuống đất. Nhưng đôi lông mày vẫn cau:
- Hỏng mất cụ ạ!…
- Thế nào mà đến nỗi hỏng? Thu xếp thế mà lại hỏng thì hỏng thế nào?
- Tôi đã dò lão ta rất kĩ lưỡng. Thằng cha ấy nó biết rõ lối đánh giác từ bao giờ ấy mất rồi. Tôi gợi
chuyện thì nó đã nói toạc móng heo ra, những là nó biết hết tất cả các lối giác mùi hay giác bóng cũng
vậy, và chỉ có những đồ mù thì mới không biết cách khám thấy dấu, chứ cứ để nghiêng quân bài dưới
ánh sáng đèn một tí thì anh nào đến thong manh dở cũng phải biết ngay! Lại còn nỗi khó khăn này:
muốn bắt lão ta, phải đến tận nhà thằng cháu lão ta, chứ lão nhất định không đi chơi chỗ nào lạ. Tôi
phải tìm cách “bỏ nhỏ” với thằng cháu lão và việc ấy cũng ổn rồi. Vậy thì cụ xếp cho một người cản
nữa để tôi đánh Vân Nam vậy.
Ông ấm ngần ngại:
- Khốn nỗi anh mà đánh đòn Vân Nam thì tôi không lấy gì làm chắc lắm. Có được anh Ba Mỹ Ký
thì lại trót hẹn mất với đám ở Hàng Kèn rồi. Hay là tối hôm nay, ta hãy đánh siệng, làng xoàng độ năm
hào một cho qua buổi để mơn lão ấy đến trưa mai hoặc tối mai, tôi cho gọi Ba Mỹ Ký đi với anh đến
thì thật là cứ “nhét đất thó vào lỗ mũi nó mà lấy tiền…”!
- Không được! Lão ấy nó đang cao hứng, nếu để đến tận trưa mai hoặc tối mai thì từ buổi sáng sớm
nó đã có thể dậy để đi cân sâm cho con nó rồi, mình còn hòng bắt nó lấy cái gì nữa?
- Thế đích xác là nó có độ bao nhiêu?
- Độ chừng sáu công
[13]
tất cả. Cụ phải tính ngay cho chứ mà…
- Thôi được, cứ về đi rồi độ sáu giờ chiều lại đây lấy nốt người cản. Để tôi có thời giờ, nghĩ thật
kĩ xem sao.
Người trẻ tuổi ấy trước khi quay gót bước xuống thang còn liếc mắt nhìn trộm chúng tôi lần cuối
cùng, dáng dấp vẫn lộ vẻ ngượng. Đến bây giờ, ông ấm mới giới thiệu:
- Đấy, một đàn em của tôi đấy. Trước làm thầy kí cho hiệu buôn lớn, chữ nghĩa kể cũng khá, sau vì
kinh tế nên bị loại, nay phải tạm sinh nhai về nghề này. Vì phải giao thiệp với hạng trếch để săn mòng,
két trong đám bồi, bếp nên tôi bắt anh ta ăn mặc đúng lối trếch. Nếu hắn diện Âu phục vào thì các ông
phải biết… Nói tiếng Tây nhanh làu làu. Chỉ trông mặt mà bắt hình dong thì nhầm to.
Anh Vân khen:
- Phải… gớm mưu trí của ngài kể cũng đáng sợ thật. Mà thế thì ra đàn em của ông toàn là những tay
đáo để, ra phết cả, “chơi được” cả…
- Thì đã hẳn!… Vào nghề này mà hiền lành thì làm ăn ra sao? Hai ông nên biết rằng không kể một
số khá đông người, nửa là đồng nghiệp, nửa là đàn em của t
 





