Tài nguyên thư viện

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Menu chức năng 11

    Menu chức năng 12

    Menu chức năng 13

    Menu chức năng 14

    Menu chức năng 15

    Menu chức năng 17

    Ảnh ngẫu nhiên

    Sách điện tử sách Bác Hồ

    💕💕 NHIỆT LIỆT CHÀO MỪNG KỶ NIỆM 81 NĂM NGÀY THÀNH LẬP QĐND VIỆT NAM 💕💕

    https://youtu.be/Sr0rguw-JdU?si=j1Y7MlEGzimltz86

    Chào mừng quý vị đến với website của ...

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.

    Bắt trẻ đồng xanh

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Nguyễn Thị Minh Lê
    Ngày gửi: 19h:09' 23-10-2025
    Dung lượng: 565.6 KB
    Số lượt tải: 0
    Số lượt thích: 0 người
    Mục Lục
    Giới thiệu ebook
    Chapter 1
    Chapter 2
    Chapter 3
    Chapter 4
    Chapter 5
    Chapter 6
    Chapter 7
    Chapter 8
    Chapter 9
    Chapter 10
    Chapter 11
    Chapter 12
    Chapter 13
    Chapter 14
    Chapter 15
    Chapter 16
    Chapter 17
    Chapter 18
    Chapter 19
    Chapter 20
    Chapter 21
    Chapter 22
    Chapter 23
    chapter 24
    Chapter 25

    Giới thiệu ebook
    BẮT TRẺ ĐỒNG XANH
    Nguyên tác: The Catcher in the Rye Của Jerome David Salinger.
    Người dịch: Ðức Dương - Bùi Mỹ Hạnh. Từ nguyên bản: “The Catcher in the Rye”, Bantam Books,
    New York, 1969.
    Gõ bởi: Snowflake, Cold_head, windandsummer
    Thư viện Ebook Sách Mới www.SachMoi.net

    Chapter 1
    N ếu các bạn thực tình muốn nghe câu chuyện tôi sắp kể, chắc hẳn các bạn muốn biết trước nhất tôi
    sinh ra ởđâu, tuổi nhỏ ngốc nghếch của tôi diễn ra thế nào, cha mẹ tôi trước ngày tôi sinh trưởng làm
    những gì – tóm lại, là toàn bộ cái mớ lai lịch vớ vẩn kiểu như của David Coperfield, đúng thế không?
    Nhưng nói thực, tôi chẳng thích bới những thứấy ra. Trước hết, không gì chán bằng phải kể lại những
    điều ngốc nghếch kia. Sau nữa, các bậc cha chú trong họ nhà tôi chắc sẽ bịđứng tim mỗi người ít nhất
    hai bận liền nếu tôi đem kể hết những chuyện bí mật đó với các bạn. Ai chứ họ, họ không thể nào xực
    nổi món ấy, nhất là bố tôi. Nói chung, họđều tử tế cả, và tôi chẳng có gì đáng phải phàn nàn, nhưng ai
    cũng đều dễ bị chạm nọc kinh người. Vả lại, tôi cũng chẳng định thuật lại lai lịch chính mình, hoặc bất
    cứ thứ gì vớ vẩn tương tự, tôi chỉ muốn kể cái trò rồ dại mới xảy ra hồi Giáng Sinh vừa rồi. Sau vụđó,
    tôi suýt quỵ hẳn, nên cả nhà đã phải tức tốc đưa tôi tới đây để chạy chữa và tĩnh dưỡng chút đỉnh. Hơn
    nữa, chuyện này tôi mới chỉ kể lại với một mình anh D. B, vì dẫu sao anh ấy cũng là anh ruột tôi. Anh
    ấy hiện đang ở trên Hollywood. Cách cái nhà an dưỡng chết rấp này chẳng mấy đường đất, và anh ấy
    vẫn ghé tới đây luôn, gần như hằng tuần. Mai mốt, không khéo chính anh ấy lại đưa tôi về, chắc chỉ
    vào đầu tháng sau thôi. Anh ấy vừa tậu được một chiếc Jaguar rất oách, mác Anh tử tế; bỏ rẻ cũng
    phóng được 200 dặm mỗi giờ. Suýt soát bốn ngàn bạc, chứ có phải ít ỏi gì đâu. Hồi này, anh ấy rủng
    rỉnh tợn. Chứ chẳng nhưđộ nọ. Độ nọ, hồi còn ở nhà, anh ấy chỉ ngồi viết văn. Nghe đồn, anh ấy có
    viết được một tập truyện mỏng tầm cỡ quốc tế hẳn hoi, đó là Chú cá vàng ẩn danh. Cái truyện tuyệt
    nhất cũng mang cùng tựa đềđó - Chú cá vàng ẩn danh, - truyện kể về một cậu bé, không cho ai ngắm
    con cá vàng của mình hết, chỉ vì chính cậu ta đã xuất tiền túi ra mua con cá đó, cái truyện ấy tuyệt đấy
    chứ ! Thế nhưng hồi này anh ấy bỏ sang hẳn bên Hollywood, bán đứng tài nghệ cho đám làm phim.
    Nếu tôi ghét gì nhất trên đời thì đó chính là xi nê. Gì chứ món đó tôi không tài nào xực nổi.
    T ốt nhất có lẽ tôi cứ mởđầu câu chuyện từ việc tôi từ giã Pencey. Pencey là cái trường trung học
    nội trú ở Agerstown, bên tiểu bang Pennsylvania. Trường đó, chắc các bạn đều nghe tiếng. Không
    chừng các bạn còn được nhìn thấy cảảnh chụp trên các mẫu quảng cáo. Vẫn đăng trên trên cả ngàn tờ
    tạp chí, chụp một thằng đại láu cá, mặt mày vênh váo, cưỡi trên lưng một con tuấn mãđang tung vó,
    chực vượt một chướng ngại vật rất cao. Cứ như là ở Pencey, học sinh chẳng còn biết làm gì hơn ngoài
    việc chơi polo! Kỳ thực, trên ấy mắt tôi cóc trông thấy một con ngựa còm nào. Rồi ngay bên dưới
    thằng nỡm láu cá nọ, họ còn trưng thêm cả cái câu này nữa: “Kể từ năm 1888, trường chúng tôi đã đào
    tạo được bao chàng trai can đảm và cao thượng!”. Láo toét! Trường ấy chưa bao giờđào tạo được đứa
    nào ra hồn. Mà cả các trường khác nữa cũng thế. Tôi chưa từng gặp một thằng nào “cao thượng và can
    đảm”. À, mà cũng có một vài thằng đấy, tôi suýt quên. Nhưng kỳ thực, mấy đứa ấy vốn đã thế. Từ
    trước khi chưa vào học kia. Chứ tại trường đó thì cóc có đứa nào tử tế.
    Tóm l ại, câu chuyện bắt đầu xảy ra vào hôm thứ bảy, khi đang diễn ra trận đấu với đội Saxon Hall.
    Phần đông đều coi đó là trận cầu hệ trọng hơn hết thảy mọi thứ trên đời đối với đội Pencey. Bởi đó là
    trận chung kết, và nếu trường tôi mà thua bọn ấy, thì toàn trường khéo đến phải treo cổ lẫn nhau vì
    nhục nhã. Tôi nhớ là ngày hôm đó, lúc gần ba giờ rưỡi, tôi đang đứng, họa có trời biết là ở xó xỉnh
    nào trên chính ngọn đồi Thompson trong khuôn viên nhà trường, kế bên khẩu thần công ngu ngốc, có
    nhẽ vẫn nằm tênh hênh trên ấy từ thời chiến tranh vì Độc Lập đến giờ. Từ chỗ tôi đứng có thể nhìn rõ
    toàn bộ sân bóng và cảnh hai đội quần nhau, từđầu bên nọđến đầu bên kia. Riêng mặt mũi khán giả thì
    tôi không tài nào nhìn ra, mà chỉ nghe thấy tiếng hò hét vọng tới. Tiếng hò hét cổ vũ cho đội nhà thiếu
    nước muốn nổ trời vì cả trường, trừ tôi, đều kéo ra xemđông đủ. Còn phía bọn Saxon Hall thì năm khi
    mười họa mới có một đứa la hét: đội khách xưa nay bao giờ cũng ít người cổ vũ!

    T ới xem các trận đấu bóng đá, bao giờ cũng lèo tèo dăm đứa con gái. Chỉ bọn con trai mấy lớp lớn
    mới được phép dắt đám bạn gái đi cùng. Đúng là một cái trường tệ lậu hết đường. Nhưng tôi, tôi vốn
    chúa ghét có mặt ở những chỗ xúm đông xúm đỏ tụi con gái bắng nhắng. Thậm chí cả khi bọn chúng
    chỉ ngồi suông, chẳng làm quái gì, mà chỉ chải đầu, xì mũi hay cười khúc khích, tôi cũng không chịu
    nổi. Con gái ông hiệu trưởng, lão Thurmer, là đứa chăm đi xem đá bóng nhất. Nhưng nó thì chẳng phải
    là thứ có thể khiến thiên hạ phải mê mẩn tâm thần. Tuy rằng nhìn chung, nó cũng chẳng có gì đáng chê.
    Có lần, tôi đã ngồi cạnh nó trên một chuyến xe buýt, xuất phát từ Agerstown, và trò chuyện huyên
    thuyên suốt buổi. Trước, tôi rất thích nó. Của đáng tội, mũi con bé kể cũng quá dài, còn mười đầu
    móng tay thì nó gặm nham nhở, đến mức suýt bật cả máu tươi. Với lại chiếc coocxê của nó, chẳng hiểu
    sao lúc nào cũng như muốn chĩa hết ra tứ phía. Nhưng tiếng thế chứ nhìn nó, ai cũng lập tức thấy mủi
    lòng ngay. Còn tôi, tôi thích nó vì nó không hay vặn vẹo bất cứ ai, như cái thói mà lão thân sinh tuyệt
    diệu của nó vẫn quen làm xưa nay. Chắc chính nó cũng thừa biết bố nó là thứ chày vồ quái đản.
    Tôi không xu ống dưới bãi bóng, mà lên đồi đứng xem, chẳng qua chỉ vì tôi vừa ở New York về,
    cùng với đội đấu kiếm của trường. Tôi chính là đội trưởng cái đội thối thây ấy. Một kiếm thủ khiến
    mọi đối thủđều phải chùn tay ngay tức khắc. Tôi dẫn toànđội xuống New Yorkđể thi đấu với trường
    Mc Burney. Có điều cuộc đọ sức đã bị bãi bỏ. Với lại tôi để quên mấy thanh kiếm, cả bộ quần áo, và
    nói chung mọi thứđồ lề vớ vẩn dưới tàu điện ngầm ở New York. Nhưng tôi hoàn toàn không có lỗi.
    Bởi tôi phải đứng lên ngồi xuống suốt, để trông chừng các bảng sơ đồ treo ở các ga, xem lúc nào thì
    phải dắt cả bọn xuống ga. Tóm lại, bọn tôi vềđến Pencey không phải trước giờăn trưa như dựđịnh, mà
    mãi tới tận hai giờ rưỡi chiều hômđó. Cảđội mắng mỏ, xỉ vả tôi đủđiều suốt dọc đường về. Kể cũng
    buồn cười thật đấy.
    Tôi không xu ống bãi bóng, còn vì một lẽ nữa, tôi tính ghé đến thăm thầy Spencer, giáo viên dạy sử
    lớp tôi, để từ biệt thầy trước lúc ra đi. Thầy bị cúm, nên tôi biết chắc từ giờ tới đầu kỳ nghỉ Giáng
    Sinh sắp đến, tôi chẳng còn dịp nào để gặp thầy nữa. Vả lại, chính thầy cũng đã gởi thư nhắn rằng thầy
    muốn gặp tôi trước lúc tôi về nhà. Thầy biết chắc tôi sẽ chẳng bao giờ quay lại đây nữa.
    À, tôi quên k ể là tôi đã bịđuổi. Tôi sẽ không quay lại trường sau kỳ nghỉ Giáng Sinh này, vì tôi đã
    thi trượt bốn môn, và nói chung, tôi không chịu học hành gì, chứ chẳng phải chỉ riêng bốn môn kia.
    Họđã cảnh cáo tôi đến cả trăm lần – phải cố mà học hành. Bố mẹ tôi, hồi giữa học kỳ cũng đã bị mời
    lên gặp lão Thurmer hiệu trưởng. Nhưng tôi bất chấp tất, vẫn chẳng chịu học hành gì. Thế nên họđã
    đuổi thẳng cánh. Họđã đuổi khỏi Pencey vô khối đứa. Học lực bọn ấy đều rất chúa, thật đấy; toàn là
    những học trò giỏi hẳn hoi.
    Tóm l ại, chuyện đó xảy ra vào hồi tháng Chạp vừa qua, trời rét căm căm, như thể bị một lão phù
    thủy chui tọt vào sau vạt áo mình. Nhất là trên ngọn đồi chết tiệt tôi đang đứng. Tôi lại chỉ phong
    phanh có mỗi chiếc blouson mỏng – găng tay không, các thứđồấm khác cũng không. Tuần trước, tôi bị
    nẫng mất chiếc măng tô bằng lông lạc đà ngay tại phòng. Cảđôi găng tay rất ấm tôi nhét trong túi áo.
    Trong này vốn nhan nhản bọn ăn cắp. Bố mẹ vô khối đứa rất giàu, thế nhưng trộm cắp vẫn như rươi.
    Hễ học phí càng cao, thì trường càng nhiều quân trộm cắp hơn. Tóm lại, tôi đứng bên khẩu thần công
    ngu ngốc ấy, suýt chết cóng đến nơi vì không có áoấm. Nhưng trận đấu, tôi nào có để mắt đến. Tôi
    trèo lên đó chẳng qua chỉ vì tôi muốn cảm thấy rõ hơn là mình đã giã từ mãi mãi cái trường chết tiệt
    này. Gì chứ chuyện bịđuổi tôi chẳng lạ. Nhưng tình thực, tôi chẳng thiết nghĩ tới chuyện phải cuốn gói
    ra đi. Tôi rất căm chuyện đó. Nhưng không một phút nào thèm nghĩ – đó là chuyện đáng buồn hay
    chẳng hơi đâu mà buồn. Nhưng mỗi lần chia tay với một nơi nào đó, bao giờ tôi cũng thấy cần phải
    cảm nhận thật rõ mình đã thực sựđoạn tuyệt với cái nơi mình sắp sửa ra đi. Bằng không, tôi vẫn cảm
    thấy bứt rứt suốt.
    Hôm đó tôi lại gặp may. Vì tôi chợt nhớđến một chuyện, và lập tức cảm nhận ngay được cái cảm

    giác mình sẽ mãi mãi rời khỏi đây. Tôi chợt nhớ một lần – vụđó xảy ra vào hồi tháng mười – ba đứa
    tôi – tôi, thằng Robert Tichener với thằng Paul Campbell – đã vờn bóng ngay trước tòa nhà dùng làm
    phòng học. Hai thằng kia đều là những đứa rất tử tế, nhất là thằng Tichener. Đó là lúc sắp sửa ăn tối,
    trời đã nhá nhem, nhưng bọn tôi vẫn mải mê với quả bóng da. Của đáng tội, trời cũng đã tối lắm rồi,
    gần như chẳng còn nhìn thấy gì, nhưng bọn tôi chẳng hiểu sao vẫn chẳng chịu thôi. Tuy vậy, rút cục vẫn
    phải bỏ cuộc. Vì thầy dạy sinh vật, ông Zambisi, bỗng thò đầu ra ngoài cửa sổ, bảo bọn tôi phải về
    ngay ký túc, ăn mặc cho tử tế mà đi ăn tối. Vụt nhớ lại chuyện đó, tôi lập tức cảm thấy chẳng có gì
    đáng phải luyến tiếc ngôi trường. Vừa hiểu ra thế, tôi bèn quay ngoắt lại, co giò lao thẳng xuống nhà
    thầy Spencer già lão. Thầy ấy không ở ngay trong trường. Mà có căn nhà nằm trênđường Antheny
    Wayne, cách trường một quãng.
    Tôi ch ạy liền một mạch tới cổng chính, rồi dừng lại một lát cho tới lúc nhịp thởđã đều trở lại. Phổi
    tôi vốn yếu, thật đấy. Một, là vì tôi rít thuốc lá như một đầu máy xe lửa, nghĩa là tôi đã nghiện ngập từ
    trước. Còn ởđây, tại cái nhà an dưỡng này, thì họ bắt phải cai thuốc. Hai, là vì chỉ riêng năm ngoái,
    tôi đã cao thêm lên những hơn mười hai phân. Chắc vì thế nên tôi mới chớm bị lao, và phải tới đây
    nằm để kiểm tra lại sức khoẻ và chữa chạy với mấy lão bác sĩ chết tiệt. Chứ ngoài hai lá phổi, thể lực
    tôi nói chung khá ổn.
    Tóm l ại, vừa đỡ hụt hơi một cái, tôi đã băng ngay qua phố, chạy thẳng tới đường Wayne. Mặt
    đường phủ kín băng, trơn chết người, nên tôi suýt ngã chổng vó mấy lần liền. Tôi chẳng biết mình chạy
    thếđể làm gì, nhưng vẫn cắm cổ chạy như bị ma đuổi. Lúc tới bên kia đường rồi, tôi bỗng có cảm giác
    như mình bị mất hút giữa trời đất. Hôm đó là một ngày rất rồ dại, rét như cắt ruột, lại chẳng có lấy
    một chút nắng nào, chẳng có gì hết, nên tôi dễ có cảm giác: hễ sang tới bên kia đường lập tức bạn sẽ
    bị mất hút vĩnh viễn.
    Khi ếp, tôi cứ bấm chuông tưởng như hóa dại, khi mò tới được trước cổng nhà ông Spencer già lão
    đó! Tôi lạnh cóng toàn thân. Hai tai nhức buốt, ngón tay không còn co duỗi được nữa. “Mau lên! Mau
    lên cho tôi nhờ một chút! – tôi suýt thét lên thành tiếng, - Mở cửa ra mau!”. Mãi, rồi bà Spencer cũng
    ra mở cửa cho tôi. Nhà hai ông bà không nuôi đầy tớ và cũng chẳng còn ai khác nữa, nên bao giờ hai
    vợ chồng cũng phải tự tay ra mở cửa cho khách. Lương bổng ông chồng khéo chỉ vừa nuôi sống vợ.
    - Cậu Holden! – bà Spencer nói – Rất mừng là được gặp lại cậu! Vào đi, cậu
    bé đáng mến! Chắc cậu suýt chết cóng ngoài phố chứ gì?
    Tôi c ảm thấy bà ta thực tình mừng rỡ khi gặp lại tôi. Bà rất quý tôi. Ít ra, tôi cũng có cảm tưởng
    thế. Tôi lao vào nhà như một phát đạn.
    - Cô vẫn khoẻ chứ, thưa cô Spencer? – Tôi nói – Thầy Spencer đã đỡ hẳn
    chưa, cô?
    - Cởi áo ngoài ra đã, Holden! – Bà bảo. Bà không nghe thấy lời tôi vừa hỏi
    th ăm sức khoẻ thầy Spencer. Bà hơi nghễnh ngãng.
    Bà treo áo tôi vào t ủ, còn tôi, tôi đưa tay lên chải lại mái tóc cho tử tế hơn. Tóc tôi vốn tua tủa như
    lông nhím trên đầu, hầu như chẳng mấy khi phải bận tâm nhiều với chuyện chải chuốt.
    - Cô vẫn mạnh giỏi luôn chứạ? – Tôi lại cất tiếng hỏi, lần này to hơn trước,
    để bà già nghe thấy điều tôi muốn hỏi thăm.
    - Ừ, tuyệt lắm, Holden ạ – Bà đóng tủ lại – Thế còn cậu?
    Qua gi ọng nói, tôi hiểu ngay: rõ ràng ông Spencer đã kể hết với bà vợ chuyện
    tôi b ịđuổi.
    - Cũng tuyệt lắm ạ, - Tôi đáp – Thế còn thầy, sức khoẻ thầy thế nào? Chắc đã
    khỏi hẳn rồi, hả cô?
    - Khỏi hẳn? Holden, độ rày ông ấy cư xử cứ như là… như là tôi với ông ấy

    ch ưa từng quen biết nhau! Ông ấy đang ngồi trong buồng riêng đấy, cậu cứ việc vào thẳng trong ấy.

    Chapter 2
    Hai ông bà, m ỗi người có một phòng riêng. Cả hai đều đã ngót bảy mươi, nếu không hơn. Tuy thế,
    họ vẫn cố tận hưởng mọi lạc thú cõi trần, dù rằng một chân đã mấp mé bên miệng huyệt. Ăn nói thế là
    mất dạy, tôi biết, nhưng trong thâm tâm tôi hoàn toàn chẳng muốn nói thế chút nào. Tôi chỉ muốn bảo:
    tôi nghĩ nhiều về ông thầy giáo già Spencer. Nhưng nếu nghĩ ngợi nhiều quá về ông, bạn sẽ lập tức
    thấy kinh ngạc sao ông ấy cứ sống mãi thế không biết?! Thì các bạn thấy đấy, lưng ông ấy đã còng gần
    sát đất, đi đứng thì chậm chạp, đến nỗi hễđánh rơi cục phấn giữa lớp thì mấy đứa ngồi ở dãy bàn đầu
    phải lập tức cúi xuống, nhặt giúp và trao lại tận tay. Theo tôi, đã vậy thì còn sống làm quái gì! Nhưng
    nếu đừng quá bận tâm đến ông ấy, mà chỉ nghĩ qua quít thì hóa ra ông ấy ăn ở cũng chẳng đến nỗi tệ
    bạc lắm. Chẳng hạn, có lần, vào một ngày chủ nhật, ông ấy đã tựđứng ra thết tôi với mấy đứa nữa, mỗi
    thằng một cốc sôcôla nóng, rồi đem khoe với bọn tôi tấm chăn Anhđiêng sắp nát mủn mà ông ấy với
    bà Spencer đã mua lại được của một anh chàng người Navaho, tại công viên Yellow Stone. Trông
    cũng biết ông ấy rất khoái chí vì đã mua được tấm chăn. Ðấy, bây giờ hẳn các bạn hiểu điều tôi muốn
    nói về thầy Spencer rồi chứ? Nghĩa là ở ông già lụ khụấy còn có một con người thứ hai nữa, từa tựa
    như ông ấy. Thế nhưng ông già thứ nhất vẫn khoái chí như ai, vì đã sắm được một tấm chăn lạ mắt của
    người Anhđiêng thuộc bộ tộc Navaho.
    C ửa phòng ông Spencer vẫn để ngỏ, nhưng tôi vẫn gõ khẽ cho lịch sự. Tôi cũng nhìn thấy ông ấy
    hẳn hoi, thầy đang ngồi trong chiếc ghế xa-lông bọc da, rộng thênh thang, người quấn chặt trong tấm
    chăn tôi vừa kể kia. Ông già quay người lại, khi thoáng nghe mấy tiếng gõ khẽ.
    - Ai đó? - Ông lớn tiếng hỏi - Cậu đấy hả Caulfield? Vào đi cậu bé, vào đi!
    Gi ọng thầy vẫn oang oang như lúc giảng bài trên lớp. Nghe rất chối óc, thật
    đấ y. Vừa bước vào là tôi đã ân hận ngay, chẳng biết ma quỷ nào xui mình mò tới đây. Ông đang
    xem tờ Atlantic Monthly, và nhìn đâu tôi cũng thấy bày la liệt nào thuốc viên, nào thuốc chai. Khắp
    phòng nồng nặc mùi thuốc nhỏ mũi để chống cảm lạnh. Tôi đâm buồn bã. Tôi, nói chung, không thích
    nhìn thấy cảnh đauốm. Tôi càng rầu hơn nữa, bởi nhìn thấy ông già choàng chiếc áo ngủ cũ mèm, sờn
    rách, thảm hại hết chỗ nói, chắc ông ấy đã dùng nó từ lúc mới lọt lòng, thật đấy. Tôi vốn chúa ghét
    người già cả lúc họ thắng bộ áo choàng ngủ hoặc pijama. Tứ thời, họ toànđể phanh ngực, phô hết mấy
    chục chiếc xương sườn ọp ẹp. Lại cả những bộ giò dễ sợ của họ nữa chứ ! Thì đã mấy ai được nhìn
    thấy một ông già nào ngoài bãi biển có bộ giò trơn tru, trắng trẻo, không một sợi lông chưa?
    - Chào thầy! Em có nhận được thư thầy. Cảm ơn thầy nhiều lắm - Ôngấy có
    vi ết cho tôi một mẩu giấy, nhắn tôi đến chào từ biệt trước lúc về nghỉđông. Ông già thừa biết tôi
    chẳng bao giờ thèm quay lại trường - Lẽ ra thầy không cần phải viết đâu. Vì đằng nào em chẳng đến từ
    giã thầy trước lúc đi hẳn?
    - Ngồi xuống đây, chú bé - Thầy Spencer bảo, chỉ tay vào cái giường ngủ kề
    bên c ạnh. Tôi ngồi xuống mép giường.
    - Thầy đã đỡ chút nào chưa ạ?
    - Em biết đấy, thầy mà thấy đỡ thì thầy còn cho đi mời bác sĩ làm gì? Ông già
    Spencer t ự diễu mình. Ông cất tiếng cười the thé, như một lão điên. Cười xong, ông già thở lấy hơi,
    rồi hỏi tiếp: - Này, sao cậu không đi xem đá bóng? Hôm nay nghe bảo là chung kết kia mà?
    - Vâng. Nhưng em vừa mới từ New York về cùng đội đấu kiếm.
    Khi ếp, giường với chiếu! Ðá tảng chắc cũng chả rắn bằng!
    R ồi thầy đột nhiên nghiêm giọng, như một ông giáo khắt khe. Tôi biết trước sau gì rồi cảnh đó cũng
    sẽ tới.

    - Nghĩa là cậu sắp giã từ chúng tôiđấy hả? - Thầy hỏi.
    - Vâng ạ, đại để là thế.
    Nghe tôi nói v ậy, thầy lập tức lắc đầu triền miên. Từ nhỏ tới giờ, tôi chưa từng thấy ai lắc đầu lâu
    đến thế. Không biết thầy ấy lắc đầu lắm thế là vì đang ngẫm nghĩ hay chẳng qua chỉ vì đã quá già. Hẳn
    quỷ sứ họa may mới hiểu!
    - Thế tiến sĩ Thurmer đã nói gì với cậu chuyện này? Nghe bảo ông ấy đã trò
    chuyện với cậu suốt một buổi chiều, đúng không?
    - Vâng ạ. Thầy ấy quả có nói chuyện với em. Nhưng em chỉ ngồi đằng phòng
    làm việc của thầy ấy chừng hai tiếng thôi, không hơn.
    - Thế ông ấy nói những gì, Holden?
    - Ồ… đủ thứ. Nào đời là một canh bạc lớn. Nào phải chơi thật trung thực,
    theo đúng luật lệ. Thầy ấy nói thao thao bất tuyệt. Nghĩa là chẳng có gì đặc sắc cả. Quanh đi quẩn
    lại vẫn chỉ mỗi một chuyện đời là một canh bạc lớn và vân vân. Gì chứ chuyện đó, em chắc thầy biết
    cả rồi?
    - Nhưng đời quả tình là một canh bạc, chú bé ạ, và phải chơi cho thật đúng
    luật lệ.
    - Vâng. Em biết những thứấy, em biết cảđấy.
    H ừm! Ví thế mà cũng đòi! Bài với chả bạc! Nếu ở bên phía vận đỏ, thì ví đời là canh bạc, hay gì gì
    tùy thích cũng chả sao. Nhưng cứ thửđặt mình vào phía bên kia, bên vận đen ? Lúc đó, xemđời có còn
    là một canh bạc nữa không? Chẳng giống nhau chút nào hết. Ví thế mà cũng đòi ví.
    - Thế tiến sĩ Thurmer đã báo tin cho bố mẹ cậu chưa? - Thầy Spencer hỏi.
    - Chưa ạ, thầy ấy định đến thứ hai mới viết thư.
    - Còn cậu, cậu cũng chưa báo tin gì cho bố mẹ cậu à?
    - Vâng, em chưa kịp báo tin gì, vì tối thứ năm này em đã có mặt ở nhà.
    - Theo cậu, bố mẹ cậu sẽ tỏ thái độ gì khi nghe tin đó?
    - Chắc… bố mẹ em sẽ giận lắm - tôi đáp - Có lẽ thế. Vì đây là lần thứ tư em
    b ịđuổi học. Bây giờ thì chính tôi lắc đầu. Tôi quen thế rồi.
    - Ái chà! - tôi nói. Ðó cũng lại là một cái tật nữa: cứ kêu lên “Ái chà!” hoặc
    “ Ối giời!” trước lúc nói. Phần vì tôi chưa tìm được những lời lẽ cần phải nói; phần vì tôi hay cư
    xử theo lối trẻ con. Hồi ấy tôi mười sáu, bây giờ thì đã mười bảy, nhưng lắm lúc tôi vẫn xử sự như
    mới mười hai, mười ba tuổi. Cư xử thế dĩ nhiên hết sức chướng mắt, nhất là vì tôi đã cao tới một mét
    bảy hai và tóc đã hoa râm. Thật đấy. Một nửa mái tóc, nửa bên phải, đã có tới cả triệu sợi bạc. Từ bé,
    vốn đã thế rồi. Vậy mà lắm lúc tôi vẫn xử sự như thể mới mười hai tuổi. Ai cũng trách tôi về khoản
    ấy, nhất là bố tôi. Nhưng chỉđúng phần nào, chứ không đúng hoàn toàn. Thế nhưng thiên hạ thường ai
    cũng tưởng mình đi guốc trong bụng người khác. Tôi thì tôi nhổ toẹt vào chuyện đó, tuy rằng tôi rất
    buồn mỗi khi nghe thiên hạ răn dạy này nọ: phải xử sự cho ra vẻ người lớn một chút chứ! Chán vạn gì
    lúc tôi cũng đã cư xử như người lớn hẳn hoi, nhưng nào có ai thèm để ý đâu. Nói chung, họ chẳng bao
    giờ chịu để ý đến bất cứđiều gì.
    Ông già Spencer l ại lắc đầu. Vừa lắc đầu, vừa cho tay vào mũi ngoáy lấy ngoáy để. Thầy ấy làm
    như thể chỉ lau mũi qua quít, nhưng kỳ thực đã thọc cả một ngón tay vào ngoáy. Chắc thầy ấy tưởng
    chuyện đó chẳng sao hết, bởi lẽ ngoài tôi ra, trong phòng chẳng còn ai. Tôi thì cố nhiên, tôi chẳng
    chấp làm gì, tuy rằng tôi chúa tởm cái trò cứ thọc tay vào mũi mà ngoáy trước mặt người ta. Lát sau
    thầy lại lên tiếng:
    - Thầy có hân hạnh là đã được tiếp xúc với bố lẫn mẹ cậu, khi hai ông bà đến
    đ ây gặp tiến sĩ Thurmer, dăm tuần trước đây. Bố mẹ cậu đều là những người hết sức quý hóa.

    - Vâng, dĩ nhiên. Bố mẹ emđều rất tử tếạ.
    Quý hóa. Tôi không ghét gì b ằng hai chữđó. Tầm thường hết chỗ nói. Nghe
    ai nh ắc tới nó là tôi thấy lợm giọng ngay. Nét mặt thầy Spencer vụt đổi khác, như thể thầy sắp thốt
    ra một điều gì rất thông minh, rất hay ho. Thầy rướn người, ngồi lại cho ngay ngắn hơn trước. Nhưng
    hóa ra tôi bị báo động nhầm. Thầy ấy chỉ cầm lên tờ tạp chí nằm trong lòng, và muốn quẳng nó sang
    cái giường cứng nhưđá. Nhưng ý định đó không kết quả. Cái giường chỉ cách chỗ thầy ấy đang ngồi
    chưa đầy năm tấc; thế mà thầy vẫn ném không tới. Tôi lại phải đứng dậy, nhặt giúp tờ báo đặt nó lên
    giường. Tôi bỗng muốn chạy ngay ra khỏi căn phòng cho nhẹ cái thân. Tôi cảm thấy sắp phải nghe một
    bài giảng đạo tồi tệ nhất. Ai muốn nói gì tùy thích, nói chung, tôi không phản đối. Nhưng tôi thấy thật
    quá quắt, nếu cứ phải ngồi nghe những lời giáo huấn mà chung quanh mình ngập ngụa toàn những thuốc
    là thuốc và trước mặt là ông già Spencer, thắng bộ pijama và chiếc áo choàng ngủ như thế kia. Nói
    thật chứ tôi chẳng còn bụng dạ nào mà ngồi nghe thầy ấy nói. Nhưng bài giảng đạo vẫn cứ tuôn ra, bất
    chấp hết thảy.
    - Cậu học hành gì mà lạ thế, hả ông tướng con - Thầy Spencer lên tiếng,
    gi ọng nghiêm khắc đến mức tôi chưa từng nghe thấy bao giờ - Học kỳ này, cậu phải thi mấy môn
    nào?
    - Năm.
    - Năm môn. Thế cậu trượt mấy môn cả thảy?
    - Bốn ạ - Tôi vặn vẹo trên chiếc giường thổ tả. Trên cái giường cứng ngắc mà
    tôi ch ưa từng gặp bao giờ. Tiếng Anh tôi thi rất trót lọt vì tôi đã từng học Beowulf và Huân tước
    Randat, con ta với đủ thứ khác nữa bên trường Whootton. Vả lại, tôi phải động đến tiếng Anh luôn,
    mỗi khi làm luận.
    Ông già b ỏ ngoài tai những điều tôi vừa nói. Tính ông ấy vẫn thế: chẳng bao giờ chịu nghe xem
    người ta nói gì với mình.
    - Tôi đánh trượt cậu môn sử, vì cậu chẳng chịu học bài gì hết, dù là một
    dòng.
    - Em biết. Ðiều đó em biết. Thầy không thể làm khác được.
    - Cậu chẳng chịu học, dù chỉ một bài! - Thầy Spencer nhắc lại. Tôi rất tức khi
    nghe ng ười khác nhắc đi nhắc lại chính cái điều mà ngay từđầu tôiđã công nhận với họ. Thế nhưng
    thầy ấy vẫn đay lại câu đó lần thứ ba: - Dù chỉ một bài thôi, cậu cũng chẳng chịu học. Tôi dám đánh
    cuộc là suốt học kỳ vừa rồi, cậu chưa hềđộng đến sách giáo khoa lần nào. Ðúng không, hả? Nói thật
    đi, ông tướng con!
    - Không đâuạ, dĩ nhiên là em có xem qua một vài bận - tôi nói. Tôi không nỡ
    làm thầy ấy giận. Thầy rất mê sử học.
    - Chà, có ấy à - thầy giận dữ nói - Xin lỗi cậu nhé, bài thi của cậu còn nằm sờ
    s ờ trên giá kia. Bên trên chồng vởđấy. Nào lấy xuống giúp cho tôi đi!
    Ðây qu ả là một vố chơi khăm, nhưng tôi vẫn phải cầm quyển vở của mình xuống, trao cho ông thầy,
    vì còn biết làm gì khác nữa? Xong đâu đó, tôi lại gieo người xuống cái giường bê tông vẫn ngồi từ
    nãy. Các bạn hẳn không thể hình dung nổi là tôi ân hận đến mức nào về chuyện đã ghé lại đây từ giã
    ông già Spencer!
    Ông c ầm quyển vở của tôi trên tay, như cầm một cục phân khô hoặc một thứ gì đó còn tồi tệ hơn.
    - Về Ai Cập, ta học từ hôm mồng 4 tháng Một đến mồng 2 thán
     
    Gửi ý kiến