https://youtu.be/Sr0rguw-JdU?si=j1Y7MlEGzimltz86
Chào mừng quý vị đến với website của ...
Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Bắt trẻ đồng xanh

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Minh Lê
Ngày gửi: 19h:09' 23-10-2025
Dung lượng: 565.6 KB
Số lượt tải: 0
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Minh Lê
Ngày gửi: 19h:09' 23-10-2025
Dung lượng: 565.6 KB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
Mục Lục
Giới thiệu ebook
Chapter 1
Chapter 2
Chapter 3
Chapter 4
Chapter 5
Chapter 6
Chapter 7
Chapter 8
Chapter 9
Chapter 10
Chapter 11
Chapter 12
Chapter 13
Chapter 14
Chapter 15
Chapter 16
Chapter 17
Chapter 18
Chapter 19
Chapter 20
Chapter 21
Chapter 22
Chapter 23
chapter 24
Chapter 25
Giới thiệu ebook
BẮT TRẺ ĐỒNG XANH
Nguyên tác: The Catcher in the Rye Của Jerome David Salinger.
Người dịch: Ðức Dương - Bùi Mỹ Hạnh. Từ nguyên bản: “The Catcher in the Rye”, Bantam Books,
New York, 1969.
Gõ bởi: Snowflake, Cold_head, windandsummer
Thư viện Ebook Sách Mới www.SachMoi.net
Chapter 1
N ếu các bạn thực tình muốn nghe câu chuyện tôi sắp kể, chắc hẳn các bạn muốn biết trước nhất tôi
sinh ra ởđâu, tuổi nhỏ ngốc nghếch của tôi diễn ra thế nào, cha mẹ tôi trước ngày tôi sinh trưởng làm
những gì – tóm lại, là toàn bộ cái mớ lai lịch vớ vẩn kiểu như của David Coperfield, đúng thế không?
Nhưng nói thực, tôi chẳng thích bới những thứấy ra. Trước hết, không gì chán bằng phải kể lại những
điều ngốc nghếch kia. Sau nữa, các bậc cha chú trong họ nhà tôi chắc sẽ bịđứng tim mỗi người ít nhất
hai bận liền nếu tôi đem kể hết những chuyện bí mật đó với các bạn. Ai chứ họ, họ không thể nào xực
nổi món ấy, nhất là bố tôi. Nói chung, họđều tử tế cả, và tôi chẳng có gì đáng phải phàn nàn, nhưng ai
cũng đều dễ bị chạm nọc kinh người. Vả lại, tôi cũng chẳng định thuật lại lai lịch chính mình, hoặc bất
cứ thứ gì vớ vẩn tương tự, tôi chỉ muốn kể cái trò rồ dại mới xảy ra hồi Giáng Sinh vừa rồi. Sau vụđó,
tôi suýt quỵ hẳn, nên cả nhà đã phải tức tốc đưa tôi tới đây để chạy chữa và tĩnh dưỡng chút đỉnh. Hơn
nữa, chuyện này tôi mới chỉ kể lại với một mình anh D. B, vì dẫu sao anh ấy cũng là anh ruột tôi. Anh
ấy hiện đang ở trên Hollywood. Cách cái nhà an dưỡng chết rấp này chẳng mấy đường đất, và anh ấy
vẫn ghé tới đây luôn, gần như hằng tuần. Mai mốt, không khéo chính anh ấy lại đưa tôi về, chắc chỉ
vào đầu tháng sau thôi. Anh ấy vừa tậu được một chiếc Jaguar rất oách, mác Anh tử tế; bỏ rẻ cũng
phóng được 200 dặm mỗi giờ. Suýt soát bốn ngàn bạc, chứ có phải ít ỏi gì đâu. Hồi này, anh ấy rủng
rỉnh tợn. Chứ chẳng nhưđộ nọ. Độ nọ, hồi còn ở nhà, anh ấy chỉ ngồi viết văn. Nghe đồn, anh ấy có
viết được một tập truyện mỏng tầm cỡ quốc tế hẳn hoi, đó là Chú cá vàng ẩn danh. Cái truyện tuyệt
nhất cũng mang cùng tựa đềđó - Chú cá vàng ẩn danh, - truyện kể về một cậu bé, không cho ai ngắm
con cá vàng của mình hết, chỉ vì chính cậu ta đã xuất tiền túi ra mua con cá đó, cái truyện ấy tuyệt đấy
chứ ! Thế nhưng hồi này anh ấy bỏ sang hẳn bên Hollywood, bán đứng tài nghệ cho đám làm phim.
Nếu tôi ghét gì nhất trên đời thì đó chính là xi nê. Gì chứ món đó tôi không tài nào xực nổi.
T ốt nhất có lẽ tôi cứ mởđầu câu chuyện từ việc tôi từ giã Pencey. Pencey là cái trường trung học
nội trú ở Agerstown, bên tiểu bang Pennsylvania. Trường đó, chắc các bạn đều nghe tiếng. Không
chừng các bạn còn được nhìn thấy cảảnh chụp trên các mẫu quảng cáo. Vẫn đăng trên trên cả ngàn tờ
tạp chí, chụp một thằng đại láu cá, mặt mày vênh váo, cưỡi trên lưng một con tuấn mãđang tung vó,
chực vượt một chướng ngại vật rất cao. Cứ như là ở Pencey, học sinh chẳng còn biết làm gì hơn ngoài
việc chơi polo! Kỳ thực, trên ấy mắt tôi cóc trông thấy một con ngựa còm nào. Rồi ngay bên dưới
thằng nỡm láu cá nọ, họ còn trưng thêm cả cái câu này nữa: “Kể từ năm 1888, trường chúng tôi đã đào
tạo được bao chàng trai can đảm và cao thượng!”. Láo toét! Trường ấy chưa bao giờđào tạo được đứa
nào ra hồn. Mà cả các trường khác nữa cũng thế. Tôi chưa từng gặp một thằng nào “cao thượng và can
đảm”. À, mà cũng có một vài thằng đấy, tôi suýt quên. Nhưng kỳ thực, mấy đứa ấy vốn đã thế. Từ
trước khi chưa vào học kia. Chứ tại trường đó thì cóc có đứa nào tử tế.
Tóm l ại, câu chuyện bắt đầu xảy ra vào hôm thứ bảy, khi đang diễn ra trận đấu với đội Saxon Hall.
Phần đông đều coi đó là trận cầu hệ trọng hơn hết thảy mọi thứ trên đời đối với đội Pencey. Bởi đó là
trận chung kết, và nếu trường tôi mà thua bọn ấy, thì toàn trường khéo đến phải treo cổ lẫn nhau vì
nhục nhã. Tôi nhớ là ngày hôm đó, lúc gần ba giờ rưỡi, tôi đang đứng, họa có trời biết là ở xó xỉnh
nào trên chính ngọn đồi Thompson trong khuôn viên nhà trường, kế bên khẩu thần công ngu ngốc, có
nhẽ vẫn nằm tênh hênh trên ấy từ thời chiến tranh vì Độc Lập đến giờ. Từ chỗ tôi đứng có thể nhìn rõ
toàn bộ sân bóng và cảnh hai đội quần nhau, từđầu bên nọđến đầu bên kia. Riêng mặt mũi khán giả thì
tôi không tài nào nhìn ra, mà chỉ nghe thấy tiếng hò hét vọng tới. Tiếng hò hét cổ vũ cho đội nhà thiếu
nước muốn nổ trời vì cả trường, trừ tôi, đều kéo ra xemđông đủ. Còn phía bọn Saxon Hall thì năm khi
mười họa mới có một đứa la hét: đội khách xưa nay bao giờ cũng ít người cổ vũ!
T ới xem các trận đấu bóng đá, bao giờ cũng lèo tèo dăm đứa con gái. Chỉ bọn con trai mấy lớp lớn
mới được phép dắt đám bạn gái đi cùng. Đúng là một cái trường tệ lậu hết đường. Nhưng tôi, tôi vốn
chúa ghét có mặt ở những chỗ xúm đông xúm đỏ tụi con gái bắng nhắng. Thậm chí cả khi bọn chúng
chỉ ngồi suông, chẳng làm quái gì, mà chỉ chải đầu, xì mũi hay cười khúc khích, tôi cũng không chịu
nổi. Con gái ông hiệu trưởng, lão Thurmer, là đứa chăm đi xem đá bóng nhất. Nhưng nó thì chẳng phải
là thứ có thể khiến thiên hạ phải mê mẩn tâm thần. Tuy rằng nhìn chung, nó cũng chẳng có gì đáng chê.
Có lần, tôi đã ngồi cạnh nó trên một chuyến xe buýt, xuất phát từ Agerstown, và trò chuyện huyên
thuyên suốt buổi. Trước, tôi rất thích nó. Của đáng tội, mũi con bé kể cũng quá dài, còn mười đầu
móng tay thì nó gặm nham nhở, đến mức suýt bật cả máu tươi. Với lại chiếc coocxê của nó, chẳng hiểu
sao lúc nào cũng như muốn chĩa hết ra tứ phía. Nhưng tiếng thế chứ nhìn nó, ai cũng lập tức thấy mủi
lòng ngay. Còn tôi, tôi thích nó vì nó không hay vặn vẹo bất cứ ai, như cái thói mà lão thân sinh tuyệt
diệu của nó vẫn quen làm xưa nay. Chắc chính nó cũng thừa biết bố nó là thứ chày vồ quái đản.
Tôi không xu ống dưới bãi bóng, mà lên đồi đứng xem, chẳng qua chỉ vì tôi vừa ở New York về,
cùng với đội đấu kiếm của trường. Tôi chính là đội trưởng cái đội thối thây ấy. Một kiếm thủ khiến
mọi đối thủđều phải chùn tay ngay tức khắc. Tôi dẫn toànđội xuống New Yorkđể thi đấu với trường
Mc Burney. Có điều cuộc đọ sức đã bị bãi bỏ. Với lại tôi để quên mấy thanh kiếm, cả bộ quần áo, và
nói chung mọi thứđồ lề vớ vẩn dưới tàu điện ngầm ở New York. Nhưng tôi hoàn toàn không có lỗi.
Bởi tôi phải đứng lên ngồi xuống suốt, để trông chừng các bảng sơ đồ treo ở các ga, xem lúc nào thì
phải dắt cả bọn xuống ga. Tóm lại, bọn tôi vềđến Pencey không phải trước giờăn trưa như dựđịnh, mà
mãi tới tận hai giờ rưỡi chiều hômđó. Cảđội mắng mỏ, xỉ vả tôi đủđiều suốt dọc đường về. Kể cũng
buồn cười thật đấy.
Tôi không xu ống bãi bóng, còn vì một lẽ nữa, tôi tính ghé đến thăm thầy Spencer, giáo viên dạy sử
lớp tôi, để từ biệt thầy trước lúc ra đi. Thầy bị cúm, nên tôi biết chắc từ giờ tới đầu kỳ nghỉ Giáng
Sinh sắp đến, tôi chẳng còn dịp nào để gặp thầy nữa. Vả lại, chính thầy cũng đã gởi thư nhắn rằng thầy
muốn gặp tôi trước lúc tôi về nhà. Thầy biết chắc tôi sẽ chẳng bao giờ quay lại đây nữa.
À, tôi quên k ể là tôi đã bịđuổi. Tôi sẽ không quay lại trường sau kỳ nghỉ Giáng Sinh này, vì tôi đã
thi trượt bốn môn, và nói chung, tôi không chịu học hành gì, chứ chẳng phải chỉ riêng bốn môn kia.
Họđã cảnh cáo tôi đến cả trăm lần – phải cố mà học hành. Bố mẹ tôi, hồi giữa học kỳ cũng đã bị mời
lên gặp lão Thurmer hiệu trưởng. Nhưng tôi bất chấp tất, vẫn chẳng chịu học hành gì. Thế nên họđã
đuổi thẳng cánh. Họđã đuổi khỏi Pencey vô khối đứa. Học lực bọn ấy đều rất chúa, thật đấy; toàn là
những học trò giỏi hẳn hoi.
Tóm l ại, chuyện đó xảy ra vào hồi tháng Chạp vừa qua, trời rét căm căm, như thể bị một lão phù
thủy chui tọt vào sau vạt áo mình. Nhất là trên ngọn đồi chết tiệt tôi đang đứng. Tôi lại chỉ phong
phanh có mỗi chiếc blouson mỏng – găng tay không, các thứđồấm khác cũng không. Tuần trước, tôi bị
nẫng mất chiếc măng tô bằng lông lạc đà ngay tại phòng. Cảđôi găng tay rất ấm tôi nhét trong túi áo.
Trong này vốn nhan nhản bọn ăn cắp. Bố mẹ vô khối đứa rất giàu, thế nhưng trộm cắp vẫn như rươi.
Hễ học phí càng cao, thì trường càng nhiều quân trộm cắp hơn. Tóm lại, tôi đứng bên khẩu thần công
ngu ngốc ấy, suýt chết cóng đến nơi vì không có áoấm. Nhưng trận đấu, tôi nào có để mắt đến. Tôi
trèo lên đó chẳng qua chỉ vì tôi muốn cảm thấy rõ hơn là mình đã giã từ mãi mãi cái trường chết tiệt
này. Gì chứ chuyện bịđuổi tôi chẳng lạ. Nhưng tình thực, tôi chẳng thiết nghĩ tới chuyện phải cuốn gói
ra đi. Tôi rất căm chuyện đó. Nhưng không một phút nào thèm nghĩ – đó là chuyện đáng buồn hay
chẳng hơi đâu mà buồn. Nhưng mỗi lần chia tay với một nơi nào đó, bao giờ tôi cũng thấy cần phải
cảm nhận thật rõ mình đã thực sựđoạn tuyệt với cái nơi mình sắp sửa ra đi. Bằng không, tôi vẫn cảm
thấy bứt rứt suốt.
Hôm đó tôi lại gặp may. Vì tôi chợt nhớđến một chuyện, và lập tức cảm nhận ngay được cái cảm
giác mình sẽ mãi mãi rời khỏi đây. Tôi chợt nhớ một lần – vụđó xảy ra vào hồi tháng mười – ba đứa
tôi – tôi, thằng Robert Tichener với thằng Paul Campbell – đã vờn bóng ngay trước tòa nhà dùng làm
phòng học. Hai thằng kia đều là những đứa rất tử tế, nhất là thằng Tichener. Đó là lúc sắp sửa ăn tối,
trời đã nhá nhem, nhưng bọn tôi vẫn mải mê với quả bóng da. Của đáng tội, trời cũng đã tối lắm rồi,
gần như chẳng còn nhìn thấy gì, nhưng bọn tôi chẳng hiểu sao vẫn chẳng chịu thôi. Tuy vậy, rút cục vẫn
phải bỏ cuộc. Vì thầy dạy sinh vật, ông Zambisi, bỗng thò đầu ra ngoài cửa sổ, bảo bọn tôi phải về
ngay ký túc, ăn mặc cho tử tế mà đi ăn tối. Vụt nhớ lại chuyện đó, tôi lập tức cảm thấy chẳng có gì
đáng phải luyến tiếc ngôi trường. Vừa hiểu ra thế, tôi bèn quay ngoắt lại, co giò lao thẳng xuống nhà
thầy Spencer già lão. Thầy ấy không ở ngay trong trường. Mà có căn nhà nằm trênđường Antheny
Wayne, cách trường một quãng.
Tôi ch ạy liền một mạch tới cổng chính, rồi dừng lại một lát cho tới lúc nhịp thởđã đều trở lại. Phổi
tôi vốn yếu, thật đấy. Một, là vì tôi rít thuốc lá như một đầu máy xe lửa, nghĩa là tôi đã nghiện ngập từ
trước. Còn ởđây, tại cái nhà an dưỡng này, thì họ bắt phải cai thuốc. Hai, là vì chỉ riêng năm ngoái,
tôi đã cao thêm lên những hơn mười hai phân. Chắc vì thế nên tôi mới chớm bị lao, và phải tới đây
nằm để kiểm tra lại sức khoẻ và chữa chạy với mấy lão bác sĩ chết tiệt. Chứ ngoài hai lá phổi, thể lực
tôi nói chung khá ổn.
Tóm l ại, vừa đỡ hụt hơi một cái, tôi đã băng ngay qua phố, chạy thẳng tới đường Wayne. Mặt
đường phủ kín băng, trơn chết người, nên tôi suýt ngã chổng vó mấy lần liền. Tôi chẳng biết mình chạy
thếđể làm gì, nhưng vẫn cắm cổ chạy như bị ma đuổi. Lúc tới bên kia đường rồi, tôi bỗng có cảm giác
như mình bị mất hút giữa trời đất. Hôm đó là một ngày rất rồ dại, rét như cắt ruột, lại chẳng có lấy
một chút nắng nào, chẳng có gì hết, nên tôi dễ có cảm giác: hễ sang tới bên kia đường lập tức bạn sẽ
bị mất hút vĩnh viễn.
Khi ếp, tôi cứ bấm chuông tưởng như hóa dại, khi mò tới được trước cổng nhà ông Spencer già lão
đó! Tôi lạnh cóng toàn thân. Hai tai nhức buốt, ngón tay không còn co duỗi được nữa. “Mau lên! Mau
lên cho tôi nhờ một chút! – tôi suýt thét lên thành tiếng, - Mở cửa ra mau!”. Mãi, rồi bà Spencer cũng
ra mở cửa cho tôi. Nhà hai ông bà không nuôi đầy tớ và cũng chẳng còn ai khác nữa, nên bao giờ hai
vợ chồng cũng phải tự tay ra mở cửa cho khách. Lương bổng ông chồng khéo chỉ vừa nuôi sống vợ.
- Cậu Holden! – bà Spencer nói – Rất mừng là được gặp lại cậu! Vào đi, cậu
bé đáng mến! Chắc cậu suýt chết cóng ngoài phố chứ gì?
Tôi c ảm thấy bà ta thực tình mừng rỡ khi gặp lại tôi. Bà rất quý tôi. Ít ra, tôi cũng có cảm tưởng
thế. Tôi lao vào nhà như một phát đạn.
- Cô vẫn khoẻ chứ, thưa cô Spencer? – Tôi nói – Thầy Spencer đã đỡ hẳn
chưa, cô?
- Cởi áo ngoài ra đã, Holden! – Bà bảo. Bà không nghe thấy lời tôi vừa hỏi
th ăm sức khoẻ thầy Spencer. Bà hơi nghễnh ngãng.
Bà treo áo tôi vào t ủ, còn tôi, tôi đưa tay lên chải lại mái tóc cho tử tế hơn. Tóc tôi vốn tua tủa như
lông nhím trên đầu, hầu như chẳng mấy khi phải bận tâm nhiều với chuyện chải chuốt.
- Cô vẫn mạnh giỏi luôn chứạ? – Tôi lại cất tiếng hỏi, lần này to hơn trước,
để bà già nghe thấy điều tôi muốn hỏi thăm.
- Ừ, tuyệt lắm, Holden ạ – Bà đóng tủ lại – Thế còn cậu?
Qua gi ọng nói, tôi hiểu ngay: rõ ràng ông Spencer đã kể hết với bà vợ chuyện
tôi b ịđuổi.
- Cũng tuyệt lắm ạ, - Tôi đáp – Thế còn thầy, sức khoẻ thầy thế nào? Chắc đã
khỏi hẳn rồi, hả cô?
- Khỏi hẳn? Holden, độ rày ông ấy cư xử cứ như là… như là tôi với ông ấy
ch ưa từng quen biết nhau! Ông ấy đang ngồi trong buồng riêng đấy, cậu cứ việc vào thẳng trong ấy.
Chapter 2
Hai ông bà, m ỗi người có một phòng riêng. Cả hai đều đã ngót bảy mươi, nếu không hơn. Tuy thế,
họ vẫn cố tận hưởng mọi lạc thú cõi trần, dù rằng một chân đã mấp mé bên miệng huyệt. Ăn nói thế là
mất dạy, tôi biết, nhưng trong thâm tâm tôi hoàn toàn chẳng muốn nói thế chút nào. Tôi chỉ muốn bảo:
tôi nghĩ nhiều về ông thầy giáo già Spencer. Nhưng nếu nghĩ ngợi nhiều quá về ông, bạn sẽ lập tức
thấy kinh ngạc sao ông ấy cứ sống mãi thế không biết?! Thì các bạn thấy đấy, lưng ông ấy đã còng gần
sát đất, đi đứng thì chậm chạp, đến nỗi hễđánh rơi cục phấn giữa lớp thì mấy đứa ngồi ở dãy bàn đầu
phải lập tức cúi xuống, nhặt giúp và trao lại tận tay. Theo tôi, đã vậy thì còn sống làm quái gì! Nhưng
nếu đừng quá bận tâm đến ông ấy, mà chỉ nghĩ qua quít thì hóa ra ông ấy ăn ở cũng chẳng đến nỗi tệ
bạc lắm. Chẳng hạn, có lần, vào một ngày chủ nhật, ông ấy đã tựđứng ra thết tôi với mấy đứa nữa, mỗi
thằng một cốc sôcôla nóng, rồi đem khoe với bọn tôi tấm chăn Anhđiêng sắp nát mủn mà ông ấy với
bà Spencer đã mua lại được của một anh chàng người Navaho, tại công viên Yellow Stone. Trông
cũng biết ông ấy rất khoái chí vì đã mua được tấm chăn. Ðấy, bây giờ hẳn các bạn hiểu điều tôi muốn
nói về thầy Spencer rồi chứ? Nghĩa là ở ông già lụ khụấy còn có một con người thứ hai nữa, từa tựa
như ông ấy. Thế nhưng ông già thứ nhất vẫn khoái chí như ai, vì đã sắm được một tấm chăn lạ mắt của
người Anhđiêng thuộc bộ tộc Navaho.
C ửa phòng ông Spencer vẫn để ngỏ, nhưng tôi vẫn gõ khẽ cho lịch sự. Tôi cũng nhìn thấy ông ấy
hẳn hoi, thầy đang ngồi trong chiếc ghế xa-lông bọc da, rộng thênh thang, người quấn chặt trong tấm
chăn tôi vừa kể kia. Ông già quay người lại, khi thoáng nghe mấy tiếng gõ khẽ.
- Ai đó? - Ông lớn tiếng hỏi - Cậu đấy hả Caulfield? Vào đi cậu bé, vào đi!
Gi ọng thầy vẫn oang oang như lúc giảng bài trên lớp. Nghe rất chối óc, thật
đấ y. Vừa bước vào là tôi đã ân hận ngay, chẳng biết ma quỷ nào xui mình mò tới đây. Ông đang
xem tờ Atlantic Monthly, và nhìn đâu tôi cũng thấy bày la liệt nào thuốc viên, nào thuốc chai. Khắp
phòng nồng nặc mùi thuốc nhỏ mũi để chống cảm lạnh. Tôi đâm buồn bã. Tôi, nói chung, không thích
nhìn thấy cảnh đauốm. Tôi càng rầu hơn nữa, bởi nhìn thấy ông già choàng chiếc áo ngủ cũ mèm, sờn
rách, thảm hại hết chỗ nói, chắc ông ấy đã dùng nó từ lúc mới lọt lòng, thật đấy. Tôi vốn chúa ghét
người già cả lúc họ thắng bộ áo choàng ngủ hoặc pijama. Tứ thời, họ toànđể phanh ngực, phô hết mấy
chục chiếc xương sườn ọp ẹp. Lại cả những bộ giò dễ sợ của họ nữa chứ ! Thì đã mấy ai được nhìn
thấy một ông già nào ngoài bãi biển có bộ giò trơn tru, trắng trẻo, không một sợi lông chưa?
- Chào thầy! Em có nhận được thư thầy. Cảm ơn thầy nhiều lắm - Ôngấy có
vi ết cho tôi một mẩu giấy, nhắn tôi đến chào từ biệt trước lúc về nghỉđông. Ông già thừa biết tôi
chẳng bao giờ thèm quay lại trường - Lẽ ra thầy không cần phải viết đâu. Vì đằng nào em chẳng đến từ
giã thầy trước lúc đi hẳn?
- Ngồi xuống đây, chú bé - Thầy Spencer bảo, chỉ tay vào cái giường ngủ kề
bên c ạnh. Tôi ngồi xuống mép giường.
- Thầy đã đỡ chút nào chưa ạ?
- Em biết đấy, thầy mà thấy đỡ thì thầy còn cho đi mời bác sĩ làm gì? Ông già
Spencer t ự diễu mình. Ông cất tiếng cười the thé, như một lão điên. Cười xong, ông già thở lấy hơi,
rồi hỏi tiếp: - Này, sao cậu không đi xem đá bóng? Hôm nay nghe bảo là chung kết kia mà?
- Vâng. Nhưng em vừa mới từ New York về cùng đội đấu kiếm.
Khi ếp, giường với chiếu! Ðá tảng chắc cũng chả rắn bằng!
R ồi thầy đột nhiên nghiêm giọng, như một ông giáo khắt khe. Tôi biết trước sau gì rồi cảnh đó cũng
sẽ tới.
- Nghĩa là cậu sắp giã từ chúng tôiđấy hả? - Thầy hỏi.
- Vâng ạ, đại để là thế.
Nghe tôi nói v ậy, thầy lập tức lắc đầu triền miên. Từ nhỏ tới giờ, tôi chưa từng thấy ai lắc đầu lâu
đến thế. Không biết thầy ấy lắc đầu lắm thế là vì đang ngẫm nghĩ hay chẳng qua chỉ vì đã quá già. Hẳn
quỷ sứ họa may mới hiểu!
- Thế tiến sĩ Thurmer đã nói gì với cậu chuyện này? Nghe bảo ông ấy đã trò
chuyện với cậu suốt một buổi chiều, đúng không?
- Vâng ạ. Thầy ấy quả có nói chuyện với em. Nhưng em chỉ ngồi đằng phòng
làm việc của thầy ấy chừng hai tiếng thôi, không hơn.
- Thế ông ấy nói những gì, Holden?
- Ồ… đủ thứ. Nào đời là một canh bạc lớn. Nào phải chơi thật trung thực,
theo đúng luật lệ. Thầy ấy nói thao thao bất tuyệt. Nghĩa là chẳng có gì đặc sắc cả. Quanh đi quẩn
lại vẫn chỉ mỗi một chuyện đời là một canh bạc lớn và vân vân. Gì chứ chuyện đó, em chắc thầy biết
cả rồi?
- Nhưng đời quả tình là một canh bạc, chú bé ạ, và phải chơi cho thật đúng
luật lệ.
- Vâng. Em biết những thứấy, em biết cảđấy.
H ừm! Ví thế mà cũng đòi! Bài với chả bạc! Nếu ở bên phía vận đỏ, thì ví đời là canh bạc, hay gì gì
tùy thích cũng chả sao. Nhưng cứ thửđặt mình vào phía bên kia, bên vận đen ? Lúc đó, xemđời có còn
là một canh bạc nữa không? Chẳng giống nhau chút nào hết. Ví thế mà cũng đòi ví.
- Thế tiến sĩ Thurmer đã báo tin cho bố mẹ cậu chưa? - Thầy Spencer hỏi.
- Chưa ạ, thầy ấy định đến thứ hai mới viết thư.
- Còn cậu, cậu cũng chưa báo tin gì cho bố mẹ cậu à?
- Vâng, em chưa kịp báo tin gì, vì tối thứ năm này em đã có mặt ở nhà.
- Theo cậu, bố mẹ cậu sẽ tỏ thái độ gì khi nghe tin đó?
- Chắc… bố mẹ em sẽ giận lắm - tôi đáp - Có lẽ thế. Vì đây là lần thứ tư em
b ịđuổi học. Bây giờ thì chính tôi lắc đầu. Tôi quen thế rồi.
- Ái chà! - tôi nói. Ðó cũng lại là một cái tật nữa: cứ kêu lên “Ái chà!” hoặc
“ Ối giời!” trước lúc nói. Phần vì tôi chưa tìm được những lời lẽ cần phải nói; phần vì tôi hay cư
xử theo lối trẻ con. Hồi ấy tôi mười sáu, bây giờ thì đã mười bảy, nhưng lắm lúc tôi vẫn xử sự như
mới mười hai, mười ba tuổi. Cư xử thế dĩ nhiên hết sức chướng mắt, nhất là vì tôi đã cao tới một mét
bảy hai và tóc đã hoa râm. Thật đấy. Một nửa mái tóc, nửa bên phải, đã có tới cả triệu sợi bạc. Từ bé,
vốn đã thế rồi. Vậy mà lắm lúc tôi vẫn xử sự như thể mới mười hai tuổi. Ai cũng trách tôi về khoản
ấy, nhất là bố tôi. Nhưng chỉđúng phần nào, chứ không đúng hoàn toàn. Thế nhưng thiên hạ thường ai
cũng tưởng mình đi guốc trong bụng người khác. Tôi thì tôi nhổ toẹt vào chuyện đó, tuy rằng tôi rất
buồn mỗi khi nghe thiên hạ răn dạy này nọ: phải xử sự cho ra vẻ người lớn một chút chứ! Chán vạn gì
lúc tôi cũng đã cư xử như người lớn hẳn hoi, nhưng nào có ai thèm để ý đâu. Nói chung, họ chẳng bao
giờ chịu để ý đến bất cứđiều gì.
Ông già Spencer l ại lắc đầu. Vừa lắc đầu, vừa cho tay vào mũi ngoáy lấy ngoáy để. Thầy ấy làm
như thể chỉ lau mũi qua quít, nhưng kỳ thực đã thọc cả một ngón tay vào ngoáy. Chắc thầy ấy tưởng
chuyện đó chẳng sao hết, bởi lẽ ngoài tôi ra, trong phòng chẳng còn ai. Tôi thì cố nhiên, tôi chẳng
chấp làm gì, tuy rằng tôi chúa tởm cái trò cứ thọc tay vào mũi mà ngoáy trước mặt người ta. Lát sau
thầy lại lên tiếng:
- Thầy có hân hạnh là đã được tiếp xúc với bố lẫn mẹ cậu, khi hai ông bà đến
đ ây gặp tiến sĩ Thurmer, dăm tuần trước đây. Bố mẹ cậu đều là những người hết sức quý hóa.
- Vâng, dĩ nhiên. Bố mẹ emđều rất tử tếạ.
Quý hóa. Tôi không ghét gì b ằng hai chữđó. Tầm thường hết chỗ nói. Nghe
ai nh ắc tới nó là tôi thấy lợm giọng ngay. Nét mặt thầy Spencer vụt đổi khác, như thể thầy sắp thốt
ra một điều gì rất thông minh, rất hay ho. Thầy rướn người, ngồi lại cho ngay ngắn hơn trước. Nhưng
hóa ra tôi bị báo động nhầm. Thầy ấy chỉ cầm lên tờ tạp chí nằm trong lòng, và muốn quẳng nó sang
cái giường cứng nhưđá. Nhưng ý định đó không kết quả. Cái giường chỉ cách chỗ thầy ấy đang ngồi
chưa đầy năm tấc; thế mà thầy vẫn ném không tới. Tôi lại phải đứng dậy, nhặt giúp tờ báo đặt nó lên
giường. Tôi bỗng muốn chạy ngay ra khỏi căn phòng cho nhẹ cái thân. Tôi cảm thấy sắp phải nghe một
bài giảng đạo tồi tệ nhất. Ai muốn nói gì tùy thích, nói chung, tôi không phản đối. Nhưng tôi thấy thật
quá quắt, nếu cứ phải ngồi nghe những lời giáo huấn mà chung quanh mình ngập ngụa toàn những thuốc
là thuốc và trước mặt là ông già Spencer, thắng bộ pijama và chiếc áo choàng ngủ như thế kia. Nói
thật chứ tôi chẳng còn bụng dạ nào mà ngồi nghe thầy ấy nói. Nhưng bài giảng đạo vẫn cứ tuôn ra, bất
chấp hết thảy.
- Cậu học hành gì mà lạ thế, hả ông tướng con - Thầy Spencer lên tiếng,
gi ọng nghiêm khắc đến mức tôi chưa từng nghe thấy bao giờ - Học kỳ này, cậu phải thi mấy môn
nào?
- Năm.
- Năm môn. Thế cậu trượt mấy môn cả thảy?
- Bốn ạ - Tôi vặn vẹo trên chiếc giường thổ tả. Trên cái giường cứng ngắc mà
tôi ch ưa từng gặp bao giờ. Tiếng Anh tôi thi rất trót lọt vì tôi đã từng học Beowulf và Huân tước
Randat, con ta với đủ thứ khác nữa bên trường Whootton. Vả lại, tôi phải động đến tiếng Anh luôn,
mỗi khi làm luận.
Ông già b ỏ ngoài tai những điều tôi vừa nói. Tính ông ấy vẫn thế: chẳng bao giờ chịu nghe xem
người ta nói gì với mình.
- Tôi đánh trượt cậu môn sử, vì cậu chẳng chịu học bài gì hết, dù là một
dòng.
- Em biết. Ðiều đó em biết. Thầy không thể làm khác được.
- Cậu chẳng chịu học, dù chỉ một bài! - Thầy Spencer nhắc lại. Tôi rất tức khi
nghe ng ười khác nhắc đi nhắc lại chính cái điều mà ngay từđầu tôiđã công nhận với họ. Thế nhưng
thầy ấy vẫn đay lại câu đó lần thứ ba: - Dù chỉ một bài thôi, cậu cũng chẳng chịu học. Tôi dám đánh
cuộc là suốt học kỳ vừa rồi, cậu chưa hềđộng đến sách giáo khoa lần nào. Ðúng không, hả? Nói thật
đi, ông tướng con!
- Không đâuạ, dĩ nhiên là em có xem qua một vài bận - tôi nói. Tôi không nỡ
làm thầy ấy giận. Thầy rất mê sử học.
- Chà, có ấy à - thầy giận dữ nói - Xin lỗi cậu nhé, bài thi của cậu còn nằm sờ
s ờ trên giá kia. Bên trên chồng vởđấy. Nào lấy xuống giúp cho tôi đi!
Ðây qu ả là một vố chơi khăm, nhưng tôi vẫn phải cầm quyển vở của mình xuống, trao cho ông thầy,
vì còn biết làm gì khác nữa? Xong đâu đó, tôi lại gieo người xuống cái giường bê tông vẫn ngồi từ
nãy. Các bạn hẳn không thể hình dung nổi là tôi ân hận đến mức nào về chuyện đã ghé lại đây từ giã
ông già Spencer!
Ông c ầm quyển vở của tôi trên tay, như cầm một cục phân khô hoặc một thứ gì đó còn tồi tệ hơn.
- Về Ai Cập, ta học từ hôm mồng 4 tháng Một đến mồng 2 thán
Giới thiệu ebook
Chapter 1
Chapter 2
Chapter 3
Chapter 4
Chapter 5
Chapter 6
Chapter 7
Chapter 8
Chapter 9
Chapter 10
Chapter 11
Chapter 12
Chapter 13
Chapter 14
Chapter 15
Chapter 16
Chapter 17
Chapter 18
Chapter 19
Chapter 20
Chapter 21
Chapter 22
Chapter 23
chapter 24
Chapter 25
Giới thiệu ebook
BẮT TRẺ ĐỒNG XANH
Nguyên tác: The Catcher in the Rye Của Jerome David Salinger.
Người dịch: Ðức Dương - Bùi Mỹ Hạnh. Từ nguyên bản: “The Catcher in the Rye”, Bantam Books,
New York, 1969.
Gõ bởi: Snowflake, Cold_head, windandsummer
Thư viện Ebook Sách Mới www.SachMoi.net
Chapter 1
N ếu các bạn thực tình muốn nghe câu chuyện tôi sắp kể, chắc hẳn các bạn muốn biết trước nhất tôi
sinh ra ởđâu, tuổi nhỏ ngốc nghếch của tôi diễn ra thế nào, cha mẹ tôi trước ngày tôi sinh trưởng làm
những gì – tóm lại, là toàn bộ cái mớ lai lịch vớ vẩn kiểu như của David Coperfield, đúng thế không?
Nhưng nói thực, tôi chẳng thích bới những thứấy ra. Trước hết, không gì chán bằng phải kể lại những
điều ngốc nghếch kia. Sau nữa, các bậc cha chú trong họ nhà tôi chắc sẽ bịđứng tim mỗi người ít nhất
hai bận liền nếu tôi đem kể hết những chuyện bí mật đó với các bạn. Ai chứ họ, họ không thể nào xực
nổi món ấy, nhất là bố tôi. Nói chung, họđều tử tế cả, và tôi chẳng có gì đáng phải phàn nàn, nhưng ai
cũng đều dễ bị chạm nọc kinh người. Vả lại, tôi cũng chẳng định thuật lại lai lịch chính mình, hoặc bất
cứ thứ gì vớ vẩn tương tự, tôi chỉ muốn kể cái trò rồ dại mới xảy ra hồi Giáng Sinh vừa rồi. Sau vụđó,
tôi suýt quỵ hẳn, nên cả nhà đã phải tức tốc đưa tôi tới đây để chạy chữa và tĩnh dưỡng chút đỉnh. Hơn
nữa, chuyện này tôi mới chỉ kể lại với một mình anh D. B, vì dẫu sao anh ấy cũng là anh ruột tôi. Anh
ấy hiện đang ở trên Hollywood. Cách cái nhà an dưỡng chết rấp này chẳng mấy đường đất, và anh ấy
vẫn ghé tới đây luôn, gần như hằng tuần. Mai mốt, không khéo chính anh ấy lại đưa tôi về, chắc chỉ
vào đầu tháng sau thôi. Anh ấy vừa tậu được một chiếc Jaguar rất oách, mác Anh tử tế; bỏ rẻ cũng
phóng được 200 dặm mỗi giờ. Suýt soát bốn ngàn bạc, chứ có phải ít ỏi gì đâu. Hồi này, anh ấy rủng
rỉnh tợn. Chứ chẳng nhưđộ nọ. Độ nọ, hồi còn ở nhà, anh ấy chỉ ngồi viết văn. Nghe đồn, anh ấy có
viết được một tập truyện mỏng tầm cỡ quốc tế hẳn hoi, đó là Chú cá vàng ẩn danh. Cái truyện tuyệt
nhất cũng mang cùng tựa đềđó - Chú cá vàng ẩn danh, - truyện kể về một cậu bé, không cho ai ngắm
con cá vàng của mình hết, chỉ vì chính cậu ta đã xuất tiền túi ra mua con cá đó, cái truyện ấy tuyệt đấy
chứ ! Thế nhưng hồi này anh ấy bỏ sang hẳn bên Hollywood, bán đứng tài nghệ cho đám làm phim.
Nếu tôi ghét gì nhất trên đời thì đó chính là xi nê. Gì chứ món đó tôi không tài nào xực nổi.
T ốt nhất có lẽ tôi cứ mởđầu câu chuyện từ việc tôi từ giã Pencey. Pencey là cái trường trung học
nội trú ở Agerstown, bên tiểu bang Pennsylvania. Trường đó, chắc các bạn đều nghe tiếng. Không
chừng các bạn còn được nhìn thấy cảảnh chụp trên các mẫu quảng cáo. Vẫn đăng trên trên cả ngàn tờ
tạp chí, chụp một thằng đại láu cá, mặt mày vênh váo, cưỡi trên lưng một con tuấn mãđang tung vó,
chực vượt một chướng ngại vật rất cao. Cứ như là ở Pencey, học sinh chẳng còn biết làm gì hơn ngoài
việc chơi polo! Kỳ thực, trên ấy mắt tôi cóc trông thấy một con ngựa còm nào. Rồi ngay bên dưới
thằng nỡm láu cá nọ, họ còn trưng thêm cả cái câu này nữa: “Kể từ năm 1888, trường chúng tôi đã đào
tạo được bao chàng trai can đảm và cao thượng!”. Láo toét! Trường ấy chưa bao giờđào tạo được đứa
nào ra hồn. Mà cả các trường khác nữa cũng thế. Tôi chưa từng gặp một thằng nào “cao thượng và can
đảm”. À, mà cũng có một vài thằng đấy, tôi suýt quên. Nhưng kỳ thực, mấy đứa ấy vốn đã thế. Từ
trước khi chưa vào học kia. Chứ tại trường đó thì cóc có đứa nào tử tế.
Tóm l ại, câu chuyện bắt đầu xảy ra vào hôm thứ bảy, khi đang diễn ra trận đấu với đội Saxon Hall.
Phần đông đều coi đó là trận cầu hệ trọng hơn hết thảy mọi thứ trên đời đối với đội Pencey. Bởi đó là
trận chung kết, và nếu trường tôi mà thua bọn ấy, thì toàn trường khéo đến phải treo cổ lẫn nhau vì
nhục nhã. Tôi nhớ là ngày hôm đó, lúc gần ba giờ rưỡi, tôi đang đứng, họa có trời biết là ở xó xỉnh
nào trên chính ngọn đồi Thompson trong khuôn viên nhà trường, kế bên khẩu thần công ngu ngốc, có
nhẽ vẫn nằm tênh hênh trên ấy từ thời chiến tranh vì Độc Lập đến giờ. Từ chỗ tôi đứng có thể nhìn rõ
toàn bộ sân bóng và cảnh hai đội quần nhau, từđầu bên nọđến đầu bên kia. Riêng mặt mũi khán giả thì
tôi không tài nào nhìn ra, mà chỉ nghe thấy tiếng hò hét vọng tới. Tiếng hò hét cổ vũ cho đội nhà thiếu
nước muốn nổ trời vì cả trường, trừ tôi, đều kéo ra xemđông đủ. Còn phía bọn Saxon Hall thì năm khi
mười họa mới có một đứa la hét: đội khách xưa nay bao giờ cũng ít người cổ vũ!
T ới xem các trận đấu bóng đá, bao giờ cũng lèo tèo dăm đứa con gái. Chỉ bọn con trai mấy lớp lớn
mới được phép dắt đám bạn gái đi cùng. Đúng là một cái trường tệ lậu hết đường. Nhưng tôi, tôi vốn
chúa ghét có mặt ở những chỗ xúm đông xúm đỏ tụi con gái bắng nhắng. Thậm chí cả khi bọn chúng
chỉ ngồi suông, chẳng làm quái gì, mà chỉ chải đầu, xì mũi hay cười khúc khích, tôi cũng không chịu
nổi. Con gái ông hiệu trưởng, lão Thurmer, là đứa chăm đi xem đá bóng nhất. Nhưng nó thì chẳng phải
là thứ có thể khiến thiên hạ phải mê mẩn tâm thần. Tuy rằng nhìn chung, nó cũng chẳng có gì đáng chê.
Có lần, tôi đã ngồi cạnh nó trên một chuyến xe buýt, xuất phát từ Agerstown, và trò chuyện huyên
thuyên suốt buổi. Trước, tôi rất thích nó. Của đáng tội, mũi con bé kể cũng quá dài, còn mười đầu
móng tay thì nó gặm nham nhở, đến mức suýt bật cả máu tươi. Với lại chiếc coocxê của nó, chẳng hiểu
sao lúc nào cũng như muốn chĩa hết ra tứ phía. Nhưng tiếng thế chứ nhìn nó, ai cũng lập tức thấy mủi
lòng ngay. Còn tôi, tôi thích nó vì nó không hay vặn vẹo bất cứ ai, như cái thói mà lão thân sinh tuyệt
diệu của nó vẫn quen làm xưa nay. Chắc chính nó cũng thừa biết bố nó là thứ chày vồ quái đản.
Tôi không xu ống dưới bãi bóng, mà lên đồi đứng xem, chẳng qua chỉ vì tôi vừa ở New York về,
cùng với đội đấu kiếm của trường. Tôi chính là đội trưởng cái đội thối thây ấy. Một kiếm thủ khiến
mọi đối thủđều phải chùn tay ngay tức khắc. Tôi dẫn toànđội xuống New Yorkđể thi đấu với trường
Mc Burney. Có điều cuộc đọ sức đã bị bãi bỏ. Với lại tôi để quên mấy thanh kiếm, cả bộ quần áo, và
nói chung mọi thứđồ lề vớ vẩn dưới tàu điện ngầm ở New York. Nhưng tôi hoàn toàn không có lỗi.
Bởi tôi phải đứng lên ngồi xuống suốt, để trông chừng các bảng sơ đồ treo ở các ga, xem lúc nào thì
phải dắt cả bọn xuống ga. Tóm lại, bọn tôi vềđến Pencey không phải trước giờăn trưa như dựđịnh, mà
mãi tới tận hai giờ rưỡi chiều hômđó. Cảđội mắng mỏ, xỉ vả tôi đủđiều suốt dọc đường về. Kể cũng
buồn cười thật đấy.
Tôi không xu ống bãi bóng, còn vì một lẽ nữa, tôi tính ghé đến thăm thầy Spencer, giáo viên dạy sử
lớp tôi, để từ biệt thầy trước lúc ra đi. Thầy bị cúm, nên tôi biết chắc từ giờ tới đầu kỳ nghỉ Giáng
Sinh sắp đến, tôi chẳng còn dịp nào để gặp thầy nữa. Vả lại, chính thầy cũng đã gởi thư nhắn rằng thầy
muốn gặp tôi trước lúc tôi về nhà. Thầy biết chắc tôi sẽ chẳng bao giờ quay lại đây nữa.
À, tôi quên k ể là tôi đã bịđuổi. Tôi sẽ không quay lại trường sau kỳ nghỉ Giáng Sinh này, vì tôi đã
thi trượt bốn môn, và nói chung, tôi không chịu học hành gì, chứ chẳng phải chỉ riêng bốn môn kia.
Họđã cảnh cáo tôi đến cả trăm lần – phải cố mà học hành. Bố mẹ tôi, hồi giữa học kỳ cũng đã bị mời
lên gặp lão Thurmer hiệu trưởng. Nhưng tôi bất chấp tất, vẫn chẳng chịu học hành gì. Thế nên họđã
đuổi thẳng cánh. Họđã đuổi khỏi Pencey vô khối đứa. Học lực bọn ấy đều rất chúa, thật đấy; toàn là
những học trò giỏi hẳn hoi.
Tóm l ại, chuyện đó xảy ra vào hồi tháng Chạp vừa qua, trời rét căm căm, như thể bị một lão phù
thủy chui tọt vào sau vạt áo mình. Nhất là trên ngọn đồi chết tiệt tôi đang đứng. Tôi lại chỉ phong
phanh có mỗi chiếc blouson mỏng – găng tay không, các thứđồấm khác cũng không. Tuần trước, tôi bị
nẫng mất chiếc măng tô bằng lông lạc đà ngay tại phòng. Cảđôi găng tay rất ấm tôi nhét trong túi áo.
Trong này vốn nhan nhản bọn ăn cắp. Bố mẹ vô khối đứa rất giàu, thế nhưng trộm cắp vẫn như rươi.
Hễ học phí càng cao, thì trường càng nhiều quân trộm cắp hơn. Tóm lại, tôi đứng bên khẩu thần công
ngu ngốc ấy, suýt chết cóng đến nơi vì không có áoấm. Nhưng trận đấu, tôi nào có để mắt đến. Tôi
trèo lên đó chẳng qua chỉ vì tôi muốn cảm thấy rõ hơn là mình đã giã từ mãi mãi cái trường chết tiệt
này. Gì chứ chuyện bịđuổi tôi chẳng lạ. Nhưng tình thực, tôi chẳng thiết nghĩ tới chuyện phải cuốn gói
ra đi. Tôi rất căm chuyện đó. Nhưng không một phút nào thèm nghĩ – đó là chuyện đáng buồn hay
chẳng hơi đâu mà buồn. Nhưng mỗi lần chia tay với một nơi nào đó, bao giờ tôi cũng thấy cần phải
cảm nhận thật rõ mình đã thực sựđoạn tuyệt với cái nơi mình sắp sửa ra đi. Bằng không, tôi vẫn cảm
thấy bứt rứt suốt.
Hôm đó tôi lại gặp may. Vì tôi chợt nhớđến một chuyện, và lập tức cảm nhận ngay được cái cảm
giác mình sẽ mãi mãi rời khỏi đây. Tôi chợt nhớ một lần – vụđó xảy ra vào hồi tháng mười – ba đứa
tôi – tôi, thằng Robert Tichener với thằng Paul Campbell – đã vờn bóng ngay trước tòa nhà dùng làm
phòng học. Hai thằng kia đều là những đứa rất tử tế, nhất là thằng Tichener. Đó là lúc sắp sửa ăn tối,
trời đã nhá nhem, nhưng bọn tôi vẫn mải mê với quả bóng da. Của đáng tội, trời cũng đã tối lắm rồi,
gần như chẳng còn nhìn thấy gì, nhưng bọn tôi chẳng hiểu sao vẫn chẳng chịu thôi. Tuy vậy, rút cục vẫn
phải bỏ cuộc. Vì thầy dạy sinh vật, ông Zambisi, bỗng thò đầu ra ngoài cửa sổ, bảo bọn tôi phải về
ngay ký túc, ăn mặc cho tử tế mà đi ăn tối. Vụt nhớ lại chuyện đó, tôi lập tức cảm thấy chẳng có gì
đáng phải luyến tiếc ngôi trường. Vừa hiểu ra thế, tôi bèn quay ngoắt lại, co giò lao thẳng xuống nhà
thầy Spencer già lão. Thầy ấy không ở ngay trong trường. Mà có căn nhà nằm trênđường Antheny
Wayne, cách trường một quãng.
Tôi ch ạy liền một mạch tới cổng chính, rồi dừng lại một lát cho tới lúc nhịp thởđã đều trở lại. Phổi
tôi vốn yếu, thật đấy. Một, là vì tôi rít thuốc lá như một đầu máy xe lửa, nghĩa là tôi đã nghiện ngập từ
trước. Còn ởđây, tại cái nhà an dưỡng này, thì họ bắt phải cai thuốc. Hai, là vì chỉ riêng năm ngoái,
tôi đã cao thêm lên những hơn mười hai phân. Chắc vì thế nên tôi mới chớm bị lao, và phải tới đây
nằm để kiểm tra lại sức khoẻ và chữa chạy với mấy lão bác sĩ chết tiệt. Chứ ngoài hai lá phổi, thể lực
tôi nói chung khá ổn.
Tóm l ại, vừa đỡ hụt hơi một cái, tôi đã băng ngay qua phố, chạy thẳng tới đường Wayne. Mặt
đường phủ kín băng, trơn chết người, nên tôi suýt ngã chổng vó mấy lần liền. Tôi chẳng biết mình chạy
thếđể làm gì, nhưng vẫn cắm cổ chạy như bị ma đuổi. Lúc tới bên kia đường rồi, tôi bỗng có cảm giác
như mình bị mất hút giữa trời đất. Hôm đó là một ngày rất rồ dại, rét như cắt ruột, lại chẳng có lấy
một chút nắng nào, chẳng có gì hết, nên tôi dễ có cảm giác: hễ sang tới bên kia đường lập tức bạn sẽ
bị mất hút vĩnh viễn.
Khi ếp, tôi cứ bấm chuông tưởng như hóa dại, khi mò tới được trước cổng nhà ông Spencer già lão
đó! Tôi lạnh cóng toàn thân. Hai tai nhức buốt, ngón tay không còn co duỗi được nữa. “Mau lên! Mau
lên cho tôi nhờ một chút! – tôi suýt thét lên thành tiếng, - Mở cửa ra mau!”. Mãi, rồi bà Spencer cũng
ra mở cửa cho tôi. Nhà hai ông bà không nuôi đầy tớ và cũng chẳng còn ai khác nữa, nên bao giờ hai
vợ chồng cũng phải tự tay ra mở cửa cho khách. Lương bổng ông chồng khéo chỉ vừa nuôi sống vợ.
- Cậu Holden! – bà Spencer nói – Rất mừng là được gặp lại cậu! Vào đi, cậu
bé đáng mến! Chắc cậu suýt chết cóng ngoài phố chứ gì?
Tôi c ảm thấy bà ta thực tình mừng rỡ khi gặp lại tôi. Bà rất quý tôi. Ít ra, tôi cũng có cảm tưởng
thế. Tôi lao vào nhà như một phát đạn.
- Cô vẫn khoẻ chứ, thưa cô Spencer? – Tôi nói – Thầy Spencer đã đỡ hẳn
chưa, cô?
- Cởi áo ngoài ra đã, Holden! – Bà bảo. Bà không nghe thấy lời tôi vừa hỏi
th ăm sức khoẻ thầy Spencer. Bà hơi nghễnh ngãng.
Bà treo áo tôi vào t ủ, còn tôi, tôi đưa tay lên chải lại mái tóc cho tử tế hơn. Tóc tôi vốn tua tủa như
lông nhím trên đầu, hầu như chẳng mấy khi phải bận tâm nhiều với chuyện chải chuốt.
- Cô vẫn mạnh giỏi luôn chứạ? – Tôi lại cất tiếng hỏi, lần này to hơn trước,
để bà già nghe thấy điều tôi muốn hỏi thăm.
- Ừ, tuyệt lắm, Holden ạ – Bà đóng tủ lại – Thế còn cậu?
Qua gi ọng nói, tôi hiểu ngay: rõ ràng ông Spencer đã kể hết với bà vợ chuyện
tôi b ịđuổi.
- Cũng tuyệt lắm ạ, - Tôi đáp – Thế còn thầy, sức khoẻ thầy thế nào? Chắc đã
khỏi hẳn rồi, hả cô?
- Khỏi hẳn? Holden, độ rày ông ấy cư xử cứ như là… như là tôi với ông ấy
ch ưa từng quen biết nhau! Ông ấy đang ngồi trong buồng riêng đấy, cậu cứ việc vào thẳng trong ấy.
Chapter 2
Hai ông bà, m ỗi người có một phòng riêng. Cả hai đều đã ngót bảy mươi, nếu không hơn. Tuy thế,
họ vẫn cố tận hưởng mọi lạc thú cõi trần, dù rằng một chân đã mấp mé bên miệng huyệt. Ăn nói thế là
mất dạy, tôi biết, nhưng trong thâm tâm tôi hoàn toàn chẳng muốn nói thế chút nào. Tôi chỉ muốn bảo:
tôi nghĩ nhiều về ông thầy giáo già Spencer. Nhưng nếu nghĩ ngợi nhiều quá về ông, bạn sẽ lập tức
thấy kinh ngạc sao ông ấy cứ sống mãi thế không biết?! Thì các bạn thấy đấy, lưng ông ấy đã còng gần
sát đất, đi đứng thì chậm chạp, đến nỗi hễđánh rơi cục phấn giữa lớp thì mấy đứa ngồi ở dãy bàn đầu
phải lập tức cúi xuống, nhặt giúp và trao lại tận tay. Theo tôi, đã vậy thì còn sống làm quái gì! Nhưng
nếu đừng quá bận tâm đến ông ấy, mà chỉ nghĩ qua quít thì hóa ra ông ấy ăn ở cũng chẳng đến nỗi tệ
bạc lắm. Chẳng hạn, có lần, vào một ngày chủ nhật, ông ấy đã tựđứng ra thết tôi với mấy đứa nữa, mỗi
thằng một cốc sôcôla nóng, rồi đem khoe với bọn tôi tấm chăn Anhđiêng sắp nát mủn mà ông ấy với
bà Spencer đã mua lại được của một anh chàng người Navaho, tại công viên Yellow Stone. Trông
cũng biết ông ấy rất khoái chí vì đã mua được tấm chăn. Ðấy, bây giờ hẳn các bạn hiểu điều tôi muốn
nói về thầy Spencer rồi chứ? Nghĩa là ở ông già lụ khụấy còn có một con người thứ hai nữa, từa tựa
như ông ấy. Thế nhưng ông già thứ nhất vẫn khoái chí như ai, vì đã sắm được một tấm chăn lạ mắt của
người Anhđiêng thuộc bộ tộc Navaho.
C ửa phòng ông Spencer vẫn để ngỏ, nhưng tôi vẫn gõ khẽ cho lịch sự. Tôi cũng nhìn thấy ông ấy
hẳn hoi, thầy đang ngồi trong chiếc ghế xa-lông bọc da, rộng thênh thang, người quấn chặt trong tấm
chăn tôi vừa kể kia. Ông già quay người lại, khi thoáng nghe mấy tiếng gõ khẽ.
- Ai đó? - Ông lớn tiếng hỏi - Cậu đấy hả Caulfield? Vào đi cậu bé, vào đi!
Gi ọng thầy vẫn oang oang như lúc giảng bài trên lớp. Nghe rất chối óc, thật
đấ y. Vừa bước vào là tôi đã ân hận ngay, chẳng biết ma quỷ nào xui mình mò tới đây. Ông đang
xem tờ Atlantic Monthly, và nhìn đâu tôi cũng thấy bày la liệt nào thuốc viên, nào thuốc chai. Khắp
phòng nồng nặc mùi thuốc nhỏ mũi để chống cảm lạnh. Tôi đâm buồn bã. Tôi, nói chung, không thích
nhìn thấy cảnh đauốm. Tôi càng rầu hơn nữa, bởi nhìn thấy ông già choàng chiếc áo ngủ cũ mèm, sờn
rách, thảm hại hết chỗ nói, chắc ông ấy đã dùng nó từ lúc mới lọt lòng, thật đấy. Tôi vốn chúa ghét
người già cả lúc họ thắng bộ áo choàng ngủ hoặc pijama. Tứ thời, họ toànđể phanh ngực, phô hết mấy
chục chiếc xương sườn ọp ẹp. Lại cả những bộ giò dễ sợ của họ nữa chứ ! Thì đã mấy ai được nhìn
thấy một ông già nào ngoài bãi biển có bộ giò trơn tru, trắng trẻo, không một sợi lông chưa?
- Chào thầy! Em có nhận được thư thầy. Cảm ơn thầy nhiều lắm - Ôngấy có
vi ết cho tôi một mẩu giấy, nhắn tôi đến chào từ biệt trước lúc về nghỉđông. Ông già thừa biết tôi
chẳng bao giờ thèm quay lại trường - Lẽ ra thầy không cần phải viết đâu. Vì đằng nào em chẳng đến từ
giã thầy trước lúc đi hẳn?
- Ngồi xuống đây, chú bé - Thầy Spencer bảo, chỉ tay vào cái giường ngủ kề
bên c ạnh. Tôi ngồi xuống mép giường.
- Thầy đã đỡ chút nào chưa ạ?
- Em biết đấy, thầy mà thấy đỡ thì thầy còn cho đi mời bác sĩ làm gì? Ông già
Spencer t ự diễu mình. Ông cất tiếng cười the thé, như một lão điên. Cười xong, ông già thở lấy hơi,
rồi hỏi tiếp: - Này, sao cậu không đi xem đá bóng? Hôm nay nghe bảo là chung kết kia mà?
- Vâng. Nhưng em vừa mới từ New York về cùng đội đấu kiếm.
Khi ếp, giường với chiếu! Ðá tảng chắc cũng chả rắn bằng!
R ồi thầy đột nhiên nghiêm giọng, như một ông giáo khắt khe. Tôi biết trước sau gì rồi cảnh đó cũng
sẽ tới.
- Nghĩa là cậu sắp giã từ chúng tôiđấy hả? - Thầy hỏi.
- Vâng ạ, đại để là thế.
Nghe tôi nói v ậy, thầy lập tức lắc đầu triền miên. Từ nhỏ tới giờ, tôi chưa từng thấy ai lắc đầu lâu
đến thế. Không biết thầy ấy lắc đầu lắm thế là vì đang ngẫm nghĩ hay chẳng qua chỉ vì đã quá già. Hẳn
quỷ sứ họa may mới hiểu!
- Thế tiến sĩ Thurmer đã nói gì với cậu chuyện này? Nghe bảo ông ấy đã trò
chuyện với cậu suốt một buổi chiều, đúng không?
- Vâng ạ. Thầy ấy quả có nói chuyện với em. Nhưng em chỉ ngồi đằng phòng
làm việc của thầy ấy chừng hai tiếng thôi, không hơn.
- Thế ông ấy nói những gì, Holden?
- Ồ… đủ thứ. Nào đời là một canh bạc lớn. Nào phải chơi thật trung thực,
theo đúng luật lệ. Thầy ấy nói thao thao bất tuyệt. Nghĩa là chẳng có gì đặc sắc cả. Quanh đi quẩn
lại vẫn chỉ mỗi một chuyện đời là một canh bạc lớn và vân vân. Gì chứ chuyện đó, em chắc thầy biết
cả rồi?
- Nhưng đời quả tình là một canh bạc, chú bé ạ, và phải chơi cho thật đúng
luật lệ.
- Vâng. Em biết những thứấy, em biết cảđấy.
H ừm! Ví thế mà cũng đòi! Bài với chả bạc! Nếu ở bên phía vận đỏ, thì ví đời là canh bạc, hay gì gì
tùy thích cũng chả sao. Nhưng cứ thửđặt mình vào phía bên kia, bên vận đen ? Lúc đó, xemđời có còn
là một canh bạc nữa không? Chẳng giống nhau chút nào hết. Ví thế mà cũng đòi ví.
- Thế tiến sĩ Thurmer đã báo tin cho bố mẹ cậu chưa? - Thầy Spencer hỏi.
- Chưa ạ, thầy ấy định đến thứ hai mới viết thư.
- Còn cậu, cậu cũng chưa báo tin gì cho bố mẹ cậu à?
- Vâng, em chưa kịp báo tin gì, vì tối thứ năm này em đã có mặt ở nhà.
- Theo cậu, bố mẹ cậu sẽ tỏ thái độ gì khi nghe tin đó?
- Chắc… bố mẹ em sẽ giận lắm - tôi đáp - Có lẽ thế. Vì đây là lần thứ tư em
b ịđuổi học. Bây giờ thì chính tôi lắc đầu. Tôi quen thế rồi.
- Ái chà! - tôi nói. Ðó cũng lại là một cái tật nữa: cứ kêu lên “Ái chà!” hoặc
“ Ối giời!” trước lúc nói. Phần vì tôi chưa tìm được những lời lẽ cần phải nói; phần vì tôi hay cư
xử theo lối trẻ con. Hồi ấy tôi mười sáu, bây giờ thì đã mười bảy, nhưng lắm lúc tôi vẫn xử sự như
mới mười hai, mười ba tuổi. Cư xử thế dĩ nhiên hết sức chướng mắt, nhất là vì tôi đã cao tới một mét
bảy hai và tóc đã hoa râm. Thật đấy. Một nửa mái tóc, nửa bên phải, đã có tới cả triệu sợi bạc. Từ bé,
vốn đã thế rồi. Vậy mà lắm lúc tôi vẫn xử sự như thể mới mười hai tuổi. Ai cũng trách tôi về khoản
ấy, nhất là bố tôi. Nhưng chỉđúng phần nào, chứ không đúng hoàn toàn. Thế nhưng thiên hạ thường ai
cũng tưởng mình đi guốc trong bụng người khác. Tôi thì tôi nhổ toẹt vào chuyện đó, tuy rằng tôi rất
buồn mỗi khi nghe thiên hạ răn dạy này nọ: phải xử sự cho ra vẻ người lớn một chút chứ! Chán vạn gì
lúc tôi cũng đã cư xử như người lớn hẳn hoi, nhưng nào có ai thèm để ý đâu. Nói chung, họ chẳng bao
giờ chịu để ý đến bất cứđiều gì.
Ông già Spencer l ại lắc đầu. Vừa lắc đầu, vừa cho tay vào mũi ngoáy lấy ngoáy để. Thầy ấy làm
như thể chỉ lau mũi qua quít, nhưng kỳ thực đã thọc cả một ngón tay vào ngoáy. Chắc thầy ấy tưởng
chuyện đó chẳng sao hết, bởi lẽ ngoài tôi ra, trong phòng chẳng còn ai. Tôi thì cố nhiên, tôi chẳng
chấp làm gì, tuy rằng tôi chúa tởm cái trò cứ thọc tay vào mũi mà ngoáy trước mặt người ta. Lát sau
thầy lại lên tiếng:
- Thầy có hân hạnh là đã được tiếp xúc với bố lẫn mẹ cậu, khi hai ông bà đến
đ ây gặp tiến sĩ Thurmer, dăm tuần trước đây. Bố mẹ cậu đều là những người hết sức quý hóa.
- Vâng, dĩ nhiên. Bố mẹ emđều rất tử tếạ.
Quý hóa. Tôi không ghét gì b ằng hai chữđó. Tầm thường hết chỗ nói. Nghe
ai nh ắc tới nó là tôi thấy lợm giọng ngay. Nét mặt thầy Spencer vụt đổi khác, như thể thầy sắp thốt
ra một điều gì rất thông minh, rất hay ho. Thầy rướn người, ngồi lại cho ngay ngắn hơn trước. Nhưng
hóa ra tôi bị báo động nhầm. Thầy ấy chỉ cầm lên tờ tạp chí nằm trong lòng, và muốn quẳng nó sang
cái giường cứng nhưđá. Nhưng ý định đó không kết quả. Cái giường chỉ cách chỗ thầy ấy đang ngồi
chưa đầy năm tấc; thế mà thầy vẫn ném không tới. Tôi lại phải đứng dậy, nhặt giúp tờ báo đặt nó lên
giường. Tôi bỗng muốn chạy ngay ra khỏi căn phòng cho nhẹ cái thân. Tôi cảm thấy sắp phải nghe một
bài giảng đạo tồi tệ nhất. Ai muốn nói gì tùy thích, nói chung, tôi không phản đối. Nhưng tôi thấy thật
quá quắt, nếu cứ phải ngồi nghe những lời giáo huấn mà chung quanh mình ngập ngụa toàn những thuốc
là thuốc và trước mặt là ông già Spencer, thắng bộ pijama và chiếc áo choàng ngủ như thế kia. Nói
thật chứ tôi chẳng còn bụng dạ nào mà ngồi nghe thầy ấy nói. Nhưng bài giảng đạo vẫn cứ tuôn ra, bất
chấp hết thảy.
- Cậu học hành gì mà lạ thế, hả ông tướng con - Thầy Spencer lên tiếng,
gi ọng nghiêm khắc đến mức tôi chưa từng nghe thấy bao giờ - Học kỳ này, cậu phải thi mấy môn
nào?
- Năm.
- Năm môn. Thế cậu trượt mấy môn cả thảy?
- Bốn ạ - Tôi vặn vẹo trên chiếc giường thổ tả. Trên cái giường cứng ngắc mà
tôi ch ưa từng gặp bao giờ. Tiếng Anh tôi thi rất trót lọt vì tôi đã từng học Beowulf và Huân tước
Randat, con ta với đủ thứ khác nữa bên trường Whootton. Vả lại, tôi phải động đến tiếng Anh luôn,
mỗi khi làm luận.
Ông già b ỏ ngoài tai những điều tôi vừa nói. Tính ông ấy vẫn thế: chẳng bao giờ chịu nghe xem
người ta nói gì với mình.
- Tôi đánh trượt cậu môn sử, vì cậu chẳng chịu học bài gì hết, dù là một
dòng.
- Em biết. Ðiều đó em biết. Thầy không thể làm khác được.
- Cậu chẳng chịu học, dù chỉ một bài! - Thầy Spencer nhắc lại. Tôi rất tức khi
nghe ng ười khác nhắc đi nhắc lại chính cái điều mà ngay từđầu tôiđã công nhận với họ. Thế nhưng
thầy ấy vẫn đay lại câu đó lần thứ ba: - Dù chỉ một bài thôi, cậu cũng chẳng chịu học. Tôi dám đánh
cuộc là suốt học kỳ vừa rồi, cậu chưa hềđộng đến sách giáo khoa lần nào. Ðúng không, hả? Nói thật
đi, ông tướng con!
- Không đâuạ, dĩ nhiên là em có xem qua một vài bận - tôi nói. Tôi không nỡ
làm thầy ấy giận. Thầy rất mê sử học.
- Chà, có ấy à - thầy giận dữ nói - Xin lỗi cậu nhé, bài thi của cậu còn nằm sờ
s ờ trên giá kia. Bên trên chồng vởđấy. Nào lấy xuống giúp cho tôi đi!
Ðây qu ả là một vố chơi khăm, nhưng tôi vẫn phải cầm quyển vở của mình xuống, trao cho ông thầy,
vì còn biết làm gì khác nữa? Xong đâu đó, tôi lại gieo người xuống cái giường bê tông vẫn ngồi từ
nãy. Các bạn hẳn không thể hình dung nổi là tôi ân hận đến mức nào về chuyện đã ghé lại đây từ giã
ông già Spencer!
Ông c ầm quyển vở của tôi trên tay, như cầm một cục phân khô hoặc một thứ gì đó còn tồi tệ hơn.
- Về Ai Cập, ta học từ hôm mồng 4 tháng Một đến mồng 2 thán
 





