Tài nguyên thư viện

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Menu chức năng 11

    Menu chức năng 12

    Menu chức năng 13

    Menu chức năng 14

    Menu chức năng 15

    Menu chức năng 17

    Ảnh ngẫu nhiên

    Sách điện tử sách Bác Hồ

    💕💕 NHIỆT LIỆT CHÀO MỪNG KỶ NIỆM 81 NĂM NGÀY THÀNH LẬP QĐND VIỆT NAM 💕💕

    https://youtu.be/Sr0rguw-JdU?si=j1Y7MlEGzimltz86

    Chào mừng quý vị đến với website của ...

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.

    Ba Chàng Cùng Hội Cùng Thuyền

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Nguyễn Thị Minh Lê
    Ngày gửi: 19h:02' 23-10-2025
    Dung lượng: 671.8 KB
    Số lượt tải: 0
    Số lượt thích: 0 người
    BA CHÀNG CÙNG HỘI CÙNG THUYỀN
    Tác giả: J.JEROME CLAPKA
    Dịch giả : Ngọc Châu
    Nhà xuất bản: Thanh Hóa
    Ngày xuất bản: Quý 3/2007
    Số trang: 203 trang
    Kích thước: 13*20.5cm

    Ngọc Châu
    *Chia sẽ ebook : http://downloadsachmienphi.com/
    Tham gia cộng đồng chia sẽ sách : Fanpage : https://www.facebook.com/downloadsachfree
    Cộng đồng Google :http://bit.ly/downloadsach

    Đôi lời về tác giả:
    Jord Jerome Clapka (1859-1927) là nhà văn Anh, nổi tiếng về những chuyện hài hước, tên của ông
    được nêu trong tất cả các sách Bách khoa toàn thư của những nền văn hoá lớn cuả nhân loại, cuốn “
    Ba người cùng hội cùng thuyền” viết năm 1889 và nhiều tác phẩm khác như “Chiếc áo ji-lê ở tầng
    bốn,” “Ba anh chàng trên chiếc xe đạp” đã được dịch sang nhiều thứ tiếng và được chuyển thể sang
    phim ảnh từ những năm đầu của thế kỉ truớc.
    “Ba người cùng hội cùng thuyền” là cuốn truyện hài hước gồm nhiều chương, người đọc có thể xem
    từng chương biệt lập và thưởng thức tính khôi hài rất “Ăng-lê” của tác giả.
    Cuốn chuyện rất nổi tiếng nhưng đôi chỗ có hơi dài dòng theo phong cách của thế kỉ trước, người dịch
    đã lược đi một số chi tiết để phù hợp với lối sống khẩn trương hiện đại mà vẫn đảm bảo để người đọc
    cảm nhận nhanh và rất thoải mái với thủ thuật hài hóm hỉnh của tác giả.

    Ngọc Châu
    Thông tin thêm:

    Jerome Klapka Jerome sinh năm 1859 ở Walsall, Staffordshire, là con trai của một chủ tiệm kim khí
    không mấy thành đạt. Ông lớn lên ở Luân Đôn và theo học trường Trung học Marelybone. Năm 14
    tuổi, ông làm nhân viên nhà ga xe lửa, sau đó làm giáo viên, diễn viên và nhà báo. Jerome đã có hai
    bài xã luận mang đậm tính hài hước trước khi cuốn Ba gã cùng thuyền của ông được xuất bản năm
    1889. Tác phẩm này đã được độc giả đón nhận hết sức nồng nhiệt được đánh giá là "1 trong 10 tác
    phẩm xuất sắc nhất mọi thời đại do NXB Penguin tổ chức bình chọn. 1 trong 10 tác phẩm hài
    hước nhất trong lịch sử theo Abebooks." và là bước đệm để ông cùng một số người khác sáng lập
    ra The Idler – tạp chí hài hước với nhiều bài viết của Bret Hart, Mark Twain, W.W. Jacobs.

    Năm 1990, Jerome xuất bản cuốn Three man in a bummel (Tạm dịch: Ba gã dạo chơi), kể tiếp về
    chuyến đi bộ của ba nhân vật chính đến nước Đức. Ngoài ra, ông cũng viết một số vở kịch có phong
    cách gần giống với phong cách của bạn mình - nhà văn J.M.Barrie, nổi tiếng nhất trong số đó là The
    passing of the third floor back (Tạm dịch: Vị khách trọ phía sau tầng ba) - một câu chuyện luân lý
    với bối cảnh là một nhà trọ. Năm 1926, ông viết hồi ký My life and times (Tạm dịch: Cuộc đời tôi).
    Jerome kết hôn năm 1888 và có một con gái. Trong suốt Chiến tranh thế giới thứ nhất, ông lái xe cứu
    thương ở mặt trận Phía Tây. Ông qua đời ngày 14 tháng 6 năm 1927 sau một cơn đột quỵ.

    Tác Phẩm:
    Tiểu Thuyết:
    Idle Thoughts of an Idle Fellow (1886)
    Three Men in a Boat (To Say Nothing of the Dog) (1889)
    Diary of a Pilgrimage (and Six Essays) (1891) (full text)
    Novel Notes (1893)
    Second Thoughts of an Idle Fellow (1898)
    Three Men on the Bummel (aka Three Men on Wheels) (1900)
    Paul Kelver, a novel (1902)
    Tommy and Co (1904)
    They and I (1909)
    All Roads Lead to Calvary (1919)
    Anthony John (1923)
    The Love of Ulrich Nebendahl (1909)
    The Philosopher's Joke (1909)
    Tuyển tập:
    Told After Supper (1891)
    John Ingerfield: And Other Stories (1894)
    Sketches in Lavender, Blue and Green (1895)
    The Observations of Henry (1901)
    The Angel and the Author and Others (1904)
    American Wives and Others (1904)
    The Passing of the Third Floor Back: And Other Stories (1907)
    Malvina of Brittany (1916)
    A miscellany of sense and nonsense from the writings of Jerome K. Jerome. Selected by the
    author with many apologies, with forty-three illustrations by Will Owen. 1924
    Three Men in a Boat and Three Men on the Bummel (1974)
    After Supper Ghost Stories: And Other Tales (1985)
    Hồi ký:
    My Life and Times (1926)
    Truyện ngắn:
    The Haunted Mill (1891)
    The New Utopia (1891)
    The Dancing Partner (1893)
    Evergreens
    Christmas Eve in the Blue Chamber
    Silhouettes
    The Skeleton
    The Snake
    The Woman of the Saeter

    Kịch:
    The Maister of Wood Barrow: play in three acts (1890)
    The Night of 14 Feb.. 1899: a play in nine scenes
    Miss Hobbs: a comedy in four acts (1902)
    Fanny and the Servant Problem, a quite possible play in four acts (1909)
    The Master of Mrs. Chilvers: an improbable comedy, imagined by Jerome K. Jerome (1911)
    The Celebrity: a play in three acts (1926)
    Robina's Web ("The Dovecote," or "The grey feather"): a farce in four acts
    The Passing of the Third Floor Back (1908) (adapted as a film in 1935)

    ---oOo---

    MỤC LỤC
    Chương Một
    Chương Hai
    Chương Ba
    Chương Bốn
    Chương Năm
    Chương Sáu
    Chương Bảy
    Chương Tám
    Chương Chín
    Chương Mười
    Chương Mười một
    Chương Mười hai
    Chương Mười ba
    Chương Mười bốn
    Chương Mười lăm
    Chương Mười sáu
    Chương Mười bảy
    Chương Mười tám
    ---oOo---

    Chương Một

    Ba tên ốm đau quặt quẹo - Tật bệnh của Jord và Hari - Vật hiến tế của một trăm bảy mươi căn
    bệnh vô phương cứu chữa – Đơn thuốc cứu mạng - Cách chữa bệnh đau gan cho trẻ nít - Thấy rõ
    như ban ngày rằng cả bọn đã cày như trâu và cần phải được nghỉ ngơi - Một tuần với cảnh biển Jord phát biểu về lợi ích của một con sông - Môn-mo-ran-xi cũng tham gia tranh biện - Phương án
    được chấp nhận với ba xuôi, một chống.
    Bọn này gồm bốn mạng: Jord, Wi-li-am Hari, tôi và con Mon-mo-ran-xi. Ngồi trong phòng tôi, rít
    thuốc, nhả khói và than thở về tình trạng không hay ho của mỗi thằng
    - Không hay ho, tất nhiên là tôi muốn nói về phương diện y học.
    Cả bọn đều thấy ươn người, tên nào cũng lo. Hari bảo rằng hắn thường có những cơn chóng mặt,
    vào lúc đó hắn chẳng biết được gì ráo trọi, thế là Jord cũng bày tỏ rằng hắn mắc chứng chóng mặt đau
    đầu, cũng chẳng biết trời xuôi hay đất ngược vào những lúc như vậy. Còn tôi là chuyện gan mật không
    theo qui củ. Tôi biết mình có chuyện chính với buồng gan là do những ngày rày đọc được mấy tờ
    quảng cáo cao đan hoàn tán đặc trị chữa bệnh về gan, trong đó nhà bào chế liệt kê vô khối dấu hiệu để
    một người đang sống có thể xác định chắc chắn rằng buồng gan của hắn sắp sửa đi tong. Những dấu
    hiệu ấy, khổ thay, đã hội tụ đầy đủ trong tôi.
    Có việc kì lạ như thế này: hễ đọc vào tờ quảng cáo thứ thuốc chữa bệnh nào là tôi đi đến kết luận
    rằng mình đang mắc chính thứ bệnh quái quỉ mà họ miêu tả, mọi triệu chứng hiện rành rành trong lục
    phủ ngũ tạng của mình.
    Một lần tôi ghé vào Đại thư viện Anh để tìm hiểu về cách chữa một thứ bệnh vớ vẩn, không biết
    bị lây ở đâu đó - hình như thiên hạ gọi là bệnh nổi mề đay. Tôi cầm quyển sách tra cứu và thấy ngay
    thứ cần tìm. Sau đó do vô công rồi nghề tôi táy máy lật mấy trang khác xem những tay sói đầu trong y
    học nói về những bệnh khác ra sao. Giờ đã quên khuấy đi tên thứ bệnh mà tôi đã tò mò đọc tới đầu
    tiên - chỉ biết rằng đó là thứ tai hoạ khủng khiếp của loài người, thế mà chưa đọc đến một nửa các
    triệu chứng được liệt kê đã thót người lại vì chính nó đang bén rễ đâm chồi trong tấm thân bảy thước
    của thằng cha khổng lồ chân đất sét là tôi.
    Đến mấy phút liền tôi ngồi chết lặng như bị thần Sấm thầm thì vào tai. Sau đó trong cảnh tuyệt
    vọng bất cần đời tôi tiếp tục lật sang các quái chứng khác. Lật tới trang nói về bệnh thổ tả, xem các
    triệu chứng của nó tôi khẳng định rằng thứ quái quỉ này đã đăng kí hộ khẩu thường trú trong cơ thể
    mình, đã làm cái thân tôi khốn khổ mấy tháng nay, chả còn gì phải nghi ngờ. Tôi đâm ra tò mò: mình
    còn mắc những bệnh gì nữa nhỉ? Xem căn bệnh múa tay giật chân Vitta và thấy rằng đúng như chờ đợi,
    quái chứng này chẳng tha tôi; đến lúc này tôi hết sức lưu tâm tới môn triệu chứng bệnh lý và quyết
    định đọc cho tới cùng: tôi lần giở theo thứ tự danh mục chữ cái, nghiên cứu căn bệnh đầu tiên là anemi
    (thiếu máu). Thằng cha đứng đầu bảng theo thứ tụ A,B,C này đang hiện diện và làm tôi khốn khổ chí ít
    cũng vài tuần nay, bệnh Bright tôi chỉ bị ở thể nhẹ, nếu chỉ mắc mình nó thì còn thọ thêm được mấy
    năm nữa. Viêm phế quản hoá ra khá nặng căn trong tôi, đau thắt ngực xét theo triệu chửng tổng thể thì
    nó xuất hiện cùng lúc khi bà đỡ quấn cho tôi chiếc tã đầu tiên. Cứ như thế đọc từ A đến Z mà chỉ có
    mỗi một căn bệnh không sao tìm thấy dấu hiệu trong người tôi là bệnh “sốt hậu sản”.
    Đầu tiên tôi thậm chí thấy nóng mặt lên với cảm giác bị xúc phạm. Căn cớ gì mà thứ bệnh này chê
    thân thể mình nhỉ? Sao bỗng dưng duy nhất thứ ôn dịch này lảng tránh cái bản mặt tôi? Tuy nhiên cảm

    giác đố kị này cũng dịu đi sau vài phút suy ngẫm. Tôi tự an ủi rằng trong mình có đầy đủ các thứ bệnh
    khác, những thứ mà chỉ những tay sừng sỏ trong ngành y mới biết hết, cơn bốc đồng dịu xuống và tôi
    cho qua chuyện tại sao bệnh sốt hậu sản lại lẩn mặt. Tuy nhiên thương hàn biểu hiện nhiều triệu chứng
    đáng kể, thêm vào đó bệnh lở mồm long móng thì đứt đuôi nòng nọc là tôi đã mắc từ lúc cất tiếng khóc
    chào đời. Đây là căn bệnh cuối cựng xếp theo vần chữ cái nên có thể yên trí rằng mình không còn bị
    thứ gì đó đe doạ nữa.
    Tôi ngồi và ngẫm nghĩ. Nghĩ về điều mình thực sự là một trường hợp hãn hữu, một phát hiện quí
    báu cho y học, bọn sinh viên chẳng cần gì phải đi thực tập trong các bệnh viện đa khoa, chẳng phải
    tham gia hội chẩn gì ráo nếu chúng vớ được tôi. Bản thân tôi là cả một bệnh viện đa khoa trọn vẹn,
    bọn chúng chỉ cần khảo nghiệm một vòng quanh các căn bệnh mà tôi hội tụ là có thể được nhận bằng
    đít-lôm ngay tắp lự .
    Rồi tôi tò mò nghĩ ngợi không hiểu mình còn bám trụ trên thế gian này được bao lâu, quyết định
    phải tự khảo nghiệm bệnh lí xem sao. Tôi tự bắt mạch. Đầu tiên thấy mình không có mạch đập! Rồi
    bỗng dưng nó xuất hiện. Tôi rút đồng hồ ra đếm: một trăm bốn mươi bảy cú đập trong một phút.
    Chuyển sang tìm xem tim nằm ở chỗ nào. Không thấy tim đâu cả, nó ngừng đập rồi chăng? Nghĩ một
    tẹo rồi tôi khẳng định rằng dẫu sao nó cũng phải ở vị trí bà mụ giành cho nó, rõ ràng nó đang đập, có
    điều tôi không tìm ra mà thôi. Tôi gõ vào đằng trước thân thể, bắt đầu từ chỗ tôi coi là eo, chuyển lên
    trên cổ, vòng qua hai mạng sườn tới lưng. Chẳng tìm thấy gì đặc biệt. Thử ngó nhìn lưỡi xem sao. Tôi
    thè lưỡi ra ngoài hết cỡ rồi dùng một mắt quan sát, mắt kia nhắm lại. Chỉ nhìn thấy mỗi cái chỏm lưỡi
    nhưng cũng đủ để hiểu rằng đây là cái lưỡi của người đang sốt phát ban.
    Bước vào gian phòng đọc của thư viện tôi là một sinh thể mạnh khoẻ và vui sướng, thế mà khi lê
    lết ra ngoài đã là một kẻ tật bệnh suy sụp đáng thương
    Tôi tới gặp bác sĩ riêng. Hắn là bạn cánh hẩu của tôi, mỗi khi cảm thấy khó ở hắn nắn mạch, nhìn
    lưỡi, trò chuyện với tôi về thời tiết - tất cả đều không đòi tiền công. Tôi nghĩ rằng đây là lúc có thể
    đền đáp hắn ta đôi chút. ”Cái quan trọng đối với một bác sĩ là thực nghiệm” - tôi nghĩ thế, và giờ đây
    hắn đã có. Trong một mình tôi hắn có thể nhận được những kiến thức thực nghiệm mà qua hàng ngàn
    người khác hắn ta cũng không thu thập đủ, những bệnh nhân hạng xoàng, chưa chắc mỗi tên đã có được
    hai thứ bệnh trong người. Thế là tôi tới gặp hắn. Hắn hỏi:
    - Sao, cậu ốm đau gì thế ?
    Tôi đáp:
    - Anh bạn nối khố ơi, tớ sẽ chẳng để cậu phải mất thời gian để nghe tớ kể về tật bệnh. Cuộc đời
    này ngắn ngủi, cậu có thể sẽ sang thế giới khác trước khi kết thúc cuộc kể lể này. Tốt hơn là kể cho
    cậu nghe bệnh gì tớ không mắc phải: tớ không bị sốt hậu sản, không thể tự giải thích tại sao lại không
    bị nhưng đó là thực tế. Tất cả các chứng bệnh khác tớ đều mắc cả.
    Tôi kể cho hắn nghe việc tôi đã đọc và tự khảo nghiệm ra sao.
    Hắn cởi phắt chiếc áo sơ mi trên người tôi, nghe và gõ, ấn mạnh vào eo lưng rồi bất thình lình thụi
    tôi một cú vào ngực - theo tôi hành vi này rất thiếu văn hoá - lại còn húc đầu vào bụng tôi một cái. Sau
    đó hắn ngồi xuống, viết cái gì đó vào mẩu giấy, gấp nó lại đưa cho tôi. Tôi rời khỏi phòng khám của
    hắn, giấu đơn thuốc trong túi áo.
    Cũng chẳng ngó vào tờ giấy, tôi đi thẳng tới hiệu thuốc gần nhất, chìa tờ đơn cho tay bán hàng.
    Người này đọc rồi trả lại tôi.
    Tay chủ hiệu thuốc nói rằng hắn không có những thứ trong đó. Tôi hỏi:
    - Đây là hiệu thuốc phải không?
    - Tôi bán thuốc - anh ta đáp - Nếu tôi là chủ hiệu thực phẩm hoặc cửa hàng lương thực thì tôi có
    thể giúp anh nhưng tôi chỉ bán thuốc thôi.

    Tôi đọc tờ đơn thuốc. Trong đó tay bác sĩ bạn tôi ghi:
    Bit-tết …………….. 1 kg
    Bia…………….
    0,5 lít
    (6 giờ sực một lần)
    Đi bộ 10 km…….. 1 lần ( thực hiện hàng sáng)
    Trèo lên giường….. 1 lần ( vào buổi tối, đúng 11 giờ)
    Và giũ khỏi đầunhững ý nghĩ cặn bã, không đáng giá một xu mẻ.
    Thực hiện theo đúng đơn thuốc đó, cái mẩu giấy của thằng bạn bác sĩ đã dẫn đến một kết cục may
    mắn (chí it là cho bản thân tôi): mạng tôi đã được cứu sống và sống nhăn răng cho đến bây giờ.
    Nhưng cũng nên quay lại với chuyện quảng cáo thuốc viên thuốc tễ đã nói ở trên. Ngày xưa tôi
    cũng đã từng có những triệu chứng của bệnh gan (chuyện ngày ấy thì không nhầm đâu) trong đó triệu
    chứng quan trọng nhất là "uể oải và không thích mó máy gì tới công việc”
    Tôi khốn khổ vì về căn bệnh ấy như thế nào - thực khó mà miêu tả cho hết. Có thể nói từ lúc còn ị
    đùn đái dầm cho tới khi thò lò mũi xanh đi học căn bệnh trên không buông tha tôi lấy một ngày. Thời
    đó mọi người trong nhà không biết là tôi mắc bệnh gan, giờ thì ngành y đã có nhiều cách tân lớn lao
    chứ vào ngày đó triệu chứng của tôi đều bị mọi người đổ cho tội lười.
    - Sao? Mày hãy còn ngả ngớn trên giường cơ à, thằng quỉ con lười biếng! Bò dậy mau, bắt tay vào
    việc đi! Họ quát tôi như vậy, tất nhiên không biết rằng đó là do tôi bị bệnh gan.
    Chẳng ai cho tôi uống viên thuốc nào, chỉ cho những cái bợp gáy. Mà thật lạ, món bợp gáy làm cho
    tôi khỏi bệnh tức thì. Muốn nói sao thì nói, cú bợp gáy ngày đó đã tác động vào buồng gan tắp lự làm
    tôi thực hiện ngay mọi công việc được sai bảo hết sức hữu hiệu, gấp mấy lần việc sài cả một hộp bự
    những viên thuốc chữa đau gan của thời buổi tân tiến bây giờ.
    Các quí ngài có thấy không, không hiếm lần những phương cách chữa trị gia đình đơn giản lại triệt
    để hơn bất kì loại thuốc đắt chảy máu mắt nào đó bán ở quầy hàng!
    *
    *

    *

    Chúng tôi ngồi chừng nửa tiếng, thi nhau miêu tả bệnh tật của mỗi thằng. Tôi nói cho Jord và Hari nghe
    về việc mình thấy khó ở như thế nào vào mỗi buổi sáng thức dậy, Hari kể về cảm giác khó chịu lúc hắn
    lên giường vào buổi tối. Jord khoanh tay đứng trên tấm thảm con truớc lò sưởi, với những động tác và
    cử chỉ nghệ sĩ hiếm hoi, kể về việc hắn ta thường rất hay ươn người vào ban đêm.
    Jord nói hắn ốm nhưng tôi xin cam đoan với các quí ngài rằng thằng cha này khoẻ như một con bò
    mộng.
    Lúc đó cô Pa-pi xuất hiện ở cửa thông báo rằng bữa ăn đã chuẩn bị xong, có nên đưa vào hay
    không. Ba tên cười nhăn nhó rồi đều nói là có lẽ phải cố thử nuốt lấy vài miếng gì đó. Hari nêu ý kiến
    hay là ta để lũ giun chết đói may ra bệnh tật có thể bớt phần tăng tiến đi chăng?! Cô Pa-pi mang mâm
    vào, chúng tôi miễn cưỡng nhích vào cạnh bàn ăn, bắt đầu gạt bới đĩa bí-tết với hành cùng món bánh
    ngọt nhân địa hoàng.
    Có thể do tôi hoàn toàn kiệt quệ nên sau khoảng nửa giờ thì đã hết thấy ngon miệng - việc này hiếm
    khi xảy ra với tôi - thậm chí không đụng gì tới món phó - mát.
    Sau khi hoàn thành nghĩa vụ theo cách thức như vậy, chúng tôi rót cho mình đầy cốc, châm thuốc
    và khôi phục câu chuyện về tình trạng tuyệt vọng của mỗi thằng về vấn đề thể lực. Thực sự đó là vấn
    đề gì thì cũng chẳng tên nào xác định được một cách rành mạch nhưng cả ba tam hợp một điều rằng nói
    gì thì nói rơi vào tình trạng quá mệt mỏi là cái chắc.

    - Hết sức đơn giản, bọn mình cần một đợt đi nghỉ - ý kiến của Hari.
    - Nghỉ và thay đổi không khí - Jord bổ xung - Mệt mỏi quá độ đã làm kiệt quệ tất cả các cơ quan
    đoàn thể trong người tớ. Thay đổi cách sống và thoát khỏi được những suy nghĩ chết tiệt hàng ngày sẽ
    khôi phục lại trạng thái thăng bằng thần kinh!
    Jord có một tay anh em họ, tay này mỗi lần bị điệu vào bốt cảnh sát đều đưa ra tờ giấy chứng thực
    rằng hắn là sinh viên Y khoa, có lẽ vì thế chẳng ai lấy làm lạ việc Jord mang dấu ấn của gia đình về
    khuynh hướng y khoa trong ngôn ngữ !
    Tôi đồng ý với Jord và bảo rằng giá mà tìm được một nơi khỉ ho cò gáy, thật xa nền văn minh quái
    đản của nhân loại để mơ mộng vẩn vơ lấy một tuần dưới ánh mặt trời, một nơi hẻo lánh bị che dấu và
    thoát xa lũ người nhốn nháo, có một tổ chim đại bàng cao trên vách đá, nhờ pháp thuật của bà Tiên nào
    đó mà chưa bị moi mất trứng hoặc chim non. Một nơi phải khó khăn lắm mới nghe thấy tiếng sóng vỗ
    mu mơ của thế kỉ hai mươi vọng tới.
    Hari không nghe, hắn bảo thế thì buồn như chấu cắn. Hắn nói hắn đã có một nơi vừa ý. Nơi của
    thằng cha này thì chả cần đến trí tưởng tượng tôi cũng miêu tả được ngay - đó là một xóm nhỏ hẻo
    lánh, cư dân và lũ gà cùng lên giường một lúc, chỗ đó có bao nhiêu tiền cũng không kiếm được một vé
    xem thể thao và phải hành hạ cặp giò qua chừng mươi dặm mới xoay ra một bao thuốc lá.
    - Không phải thế - Hari phản đối - nếu quả thật cả bọn cần nghỉ ngơi và thay đổi cảnh quan thì tốt
    nhất cứ đi ra biển.
    Tôi cực lực phản đối chuyện đi ra biển. Đi chơi biển cũng tốt nếu như có lấy vài ba tháng nghỉ
    ngơi nhưng chỉ một tuần thì cực vô lý. Các ngài đi ra biển vào ngày thứ hai, nâng niu mơ ước về một
    đợt nghỉ ngơi và tiêu khiển, các ngài vẫy lấy vẫy để mấy anh bạn ra chia tay đang đứng trên bờ, khoái
    trá châm lửa vào tẩu thuốc, sải chân đi lại trên boong với dáng vẻ tự hào đáng kính hơn cả Cô-lômbô, thuyền trưởng Kúc và Ma-gien-lăng cộng lại.
    Sang ngày thứ hai, sau vài ba đợt sóng ngài đã bắt đầu hối về chuyện đi ra biển. Thứ tư, thứ năm
    và thứ sáu ngài thấy nỗi đau khổ vì đã chót sinh ra trên thế gian. Thứ bảy, ngài thu sức tàn lực kiệt cố
    xơi vài ngụm nước dùng, ngồi trên boong nở nụ cười méo xệch để trả lời những câu thăm hỏi của các
    bạn đồng cảnh ngộ. Chủ nhật thì ngài đã quen quen với sóng, đủ khả năng đi loạng choạng sang phòng
    ăn để xực chút gì răn rắn. Sáng thứ hai tiếp theo, khi thấy đi biển cũng hay hay thì ngài đã tay vali tay
    cầm ô, đứng ở cầu thang chuẩn bị xuống tàu!
    Tôi còn nhớ cậu em cọc chèo của mình đã tiến hành một chuyến đi biển nho nhỏ để củng cố sức
    lực ra sao. Cậu chàng mua vé khứ hồi từ Luân-đôn đi Li-vớc-pun, nhưng khi tới được Li-vơc-pun thì
    tâm trí hắn để hết vào việc làm sao có thể nhượng lại chiếc vé cho ai đó. Người ta kể rằng hắn gí
    chiếc vé vào mũi từng người hắn gặp trên ga cảng để gạ họ mua với giá rẻ bất ngờ, cuối cùng vé cũng
    bán được với giá mười tám xu cho một tay thanh niên gày như cá mắm, một anh chàng được bác sĩ cho
    đơn thuốc có bao gồm nhu cầu hít thở không khí và dạo chơi ngoài biển.
    - Không khí biển hở! - Vừa sung sướng nhét rất dịu dàng chiếc vé vào tay anh chàng khốn khổ, câu
    em cọc chèo của tôi vừa thốt lên - Ồ, cậu sẽ no nê không khí biển cho cả cuộc đời, còn về chuyện đi
    dạo ấy à, ngồi trên boong tàu cậu sẽ được đi dạo gấp mấy lần việc choãi cặp chân cà kheo ra mà đi
    trên bãi cát!
    Hắn - thằng em cọc chèo của tôi - quay về bằng tàu hoả, giải thích rằng cuốc tàu hoả bắc - đông là
    quá đủ để bồi bổ cho sức khoẻ rồi.
    Một người quen khác của tôi làm chuyến du ngoạn một tuần dọc theo bờ biển. Truớc khi tàu nhổ neo
    chiêu đãi viên của tàu tới gặp hỏi anh ta ưng trả tiền ăn cho từng bữa hay ưng trả tiền trước cho cả
    chuyến đi. Tay chiêu đãi viên khuyên nên chọn cách thứ hai, như thế lợi hơn. Hắn bảo tiền ăn cho cả

    hai tuần là hai bảng năm mươi xu, bữa sáng sẽ có cá và thịt rán. Bữa trưa thường vào một giờ với bốn
    món. Vào sáu giờ là bữa chính gồm súp, khai vị, món nướng, thịt thú, salát, đồ ngọt, phó-mát và hoa
    quả. Bữa ăn nhẹ cuối cùng vào mười giờ đêm sẽ có mấy món thịt.
    Anh bạn tôi (rất khoái nhậu nhẹt) thấy chỉ việc trả một trăm năm mươi xu cho vấn đề ăn uống là ổn
    nên xì tiền ngay tắp lự. Bữa trưa dọn ra khi chiếc ca-nô mới vừa rời bến. Anh ta chưa đến độ đói như
    mong đợi nên thoả mãn với cục thịt rán khá to, dâu tây và mận. Liền tù tì vài bữa dồn dập như vậy
    cộng với mùi thịt rán từ nhà bếp liên tục bốc lên sặc sụa nên đến ngày hôm sau anh chàng có cảm giác
    mấy tháng nay chỉ ăn toàn thịt rán với dâu tây và mận, nhưng nghĩ tới số tiền đã trả đành phải cố nhồi
    nhét cho khỏi phí.
    Thêm vài bữa nữa thì anh bạn khốn khổ của tôi lấy làm ngạc nhiên về việc sao trước đây mình lại
    có thể khoái việc ăn uống đến vậy, hắn phải trốn lên boong thượng sống chay tịnh bằng bánh mì và
    nước khoáng mấy ngày, cho đến khi có đủ dũng khí quyết định tiếp tục xuống ăn cho hết số tiền chót trả
    trước cho tay chiêu đãi viên. Tuy nhiên đã đến thời hạn phải bái bai con tàu, và anh ta đành buồn rầu
    đứng nhìn nó mang một nửa số tiền chưa kịp ăn của mình ra đi mỗi lúc một xa. Hắn cả quyết với tôi
    rằng chỉ cần một ngày nữa ở lại trên tàu thì cũng quyết không chịu lỗ vốn với tên chiêu đãi viên khốn
    kiếp!
    Vậy nên tôi cương quyết phản đối việc đi chơi biển. Vấn đề không phải ở chỗ tôi lo cho tôi. Tôi chưa
    từng biết đến cảm giác say sóng, luôn chấp một mắt các vụ tròng trành nhưng tôi sợ cho tên Jord. Jord
    nói hắn tin ở bản thân nên chẳng việc gì phải phản đối chuyện đi biển nhưng hắn khuyên tôi và Hari
    đừng nên nghĩ đến việc đó vì cả hai chúng tôi đang ốm. Hari phát biểu rằng hắn bao giờ cũng lấy làm
    ngạc nhiên khi người ta cố tìm mọi cách giả vờ rằng mình bị say sóng, hắn không tin có hiện tượng đó
    cũng như không biết thế nào là ốm, có muốn cũng không ốm được.
    Sau đấy Hari kể cho chúng tôi nghe chuyện hắn đã từng vượt qua biển Măng-xơ trong một cơn bão
    khủng khiếp ra sao, tất cả hành khách đều phải bám chặt vào vai giường nằm chỉ có hai người dám
    đứng trên boong - là hắn và viên thuyền trưởng - Tôi nghĩ là thằng cha này cũng còn biết nói khoác một
    cách chừng mực vì theo lời hắn kể ít nhất còn có viên thuyền trưởng cũng không bị say sóng như hắn
    ta.
    Có việc lạ lùng như thế này, những người say lăn say lóc khi ở trên tàu chẳng bao giờ biết say sóng
    là gì khi ở trên đất liền! Ở trên biển các ngài có thể gặp người say sóng ở mọi xó xỉnh của con tàu,
    không cẩn thận dễ dẵm lên người họ, nhưng trên bờ tôi chả thấy ai bảo mình bị say sóng bao giờ,
    không biết những người say ấy biến đi đâu mất tăm, mà họ không phải ít đâu nhá, lúc nha lúc nhúc trên
    mỗi con tàu đang hành trình!
    Về phần mình tôi tìm ra một cách tuyệt vời để chống lại tình trạng say sóng . Chỉ cần giữ cho trọng
    tâm thăng bằng là ổn ngay. Các ngài cứ ngồi ở giữa tàu và ngả nghiêng người một cách thích hợp,
    tương ứng với trạng thái của con tàu lúc đó: khi mũi tàu ngóc lên ngài hãy cúi gập người về phía
    trước để cho trán mình chạm vào sàn, còn khi đuôi tàu vểnh lên trời xin hãy ngả người ra đằng sau cho
    gáy tiếp xúc với thảm sàn càng tốt. Làm theo cách đó có thể trụ được với sóng biển chừng một vài giờ
    nhưng nếu các quí ngài thử giữ thăng bằng độ một tuần lễ như vậy thì tôi rất muốn được nghe cảm
    tưởng của những ai đã áp dụng biện pháp nêu trên!
    Jord bảo :
    - Bọn mình đi thuyền chu du ngược dòng sông đi !
    Hắn nói rằng cả bọn sẽ được thở hít không khí trong lành không hạn chế, thoải mái lao động chân
    tay và bình ổn tâm thần, cảnh vật mới sẽ liên tục trình diễn còn sự mệt mỏi vừa mức sẽ gây tác động
    tốt đến việc thèm ăn và cả bọn sẽ ngủ không hề vẫy đuôi động tai!

    Hari có ý kiến rằng liệu có nên để Jord áp dụng liệu pháp gì đó nhằm tăng độ ngủ say hay không vì
    đó là điều nguy hiểm. Mùa hè hay mùa đông thì một ngày đêm cũng chỉ có hai mươi tư tiếng đồng hồ,
    làm cách nào để cho tên này có thể ngủ thêm gìơ hơn được nữa, nếu Jord cứ nhất quyết tăng thời
    lượng ngủ thì có lẽ chỉ thêm vài gi
     
    Gửi ý kiến